Tổng quan nghiên cứu

Thoái hóa đất và biến động tiêu cực của nguồn nước đầu nguồn đang trở thành thách thức môi trường cấp bách tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, tổng diện tích tự nhiên đạt 54.649,0 ha, trong đó đất quy hoạch cho lâm nghiệp chiếm tới 75,5% tương đương 42.900,6 ha. Đáng chú ý, diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn chiếm tới 19.401,0 ha, đóng vai trò sống còn trong việc điều tiết dòng chảy và bảo vệ lưu vực sông Cầu. Tuy nhiên, tình trạng suy giảm thảm thực vật tự nhiên trong nhiều giai đoạn trước đây đã làm gia tăng cường độ lũ quét vào mùa mưa và tình trạng khô hạn gay gắt trong mùa cạn.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi được đặt ra là sự thiếu hụt các dẫn liệu định lượng chính xác về mối quan hệ giữa cấu trúc các trạng thái rừng tự nhiên với các yếu tố thủy văn và xói mòn đất trên địa bàn. Phần lớn các đánh giá quy hoạch trước đây chủ yếu dựa trên quan sát định tính, gây khó khăn cho việc thiết kế cấu trúc lâm phần phòng hộ tối ưu. Đề tài tập trung xác định các đặc điểm thủy văn cơ bản gồm dòng chảy mặt, lượng nước thấm vào đất, cường độ thoát hơi nước và lượng đất mất do xói mòn bề mặt tại các trạng thái rừng tự nhiên phổ biến.

Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm thực địa trong giai đoạn năm 2012 đến 2013 tại địa bàn huyện Bạch Thông. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống thông số khoa học chuẩn xác, cho phép định lượng hóa khả năng giữ nước và bảo vệ đất của 3 trạng thái rừng tự nhiên chủ yếu chiếm 66,08% tổng diện tích thảm thực vật khu vực. Luận văn đóng góp cơ sở khoa học then chốt phục vụ công tác quy hoạch lâm nghiệp bền vững, hỗ trợ nâng cao hiệu quả phòng hộ đầu nguồn và giảm thiểu rủi ro thiên tai cho hạ lưu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết tuần hoàn thủy văn rừng và học thuyết dung tích giữ nước của hệ sinh thái rừng do các nhà khoa học lâm nghiệp phát triển từ thập niên 1990. Theo lý thuyết này, khả năng giữ nước của rừng là một hệ thống cân bằng động phức hợp, được quyết định bởi ba thành phần chính: lượng nước lưu giữ trên tán cây, lượng nước hấp thụ bởi lớp vật rơi rụng thảm mục và dung lượng nước tích trữ trong các tầng đất.

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng lý thuyết diện tích sản sinh dòng chảy biến động trên đất dốc để thay thế cho giả thuyết dòng chảy siêu thấm cổ điển. Nghiên cứu cũng đánh giá giới hạn ứng dụng của định luật Darcy trong môi trường đất rừng tự nhiên do ảnh hưởng của hệ thống rễ cây và động vật đất tạo ra các lỗ rỗng phi mao dẫn lớn, làm tăng tốc độ thấm ổn định lên trên 80 mm/giờ. Đồng thời, phương trình mất đất tổng quát Wischmeier và mô hình dự báo xói mòn của các nhà nghiên cứu lâm học Việt Nam được sử dụng làm cơ sở lý luận nhằm phân tích tác động của các tầng thảm thực vật đến việc triệt tiêu động năng hạt mưa.

Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  • Dung tích giữ nước của rừng: Tổng lượng nước tối đa mà lâm phần có thể lưu giữ qua tán cây, thảm mục và tầng đất mặt.
  • Lượng mưa lọt tán: Phần lượng mưa xuyên qua tán cây và rơi xuống bề mặt đất rừng, thường chiếm từ 75% đến 90% tổng lượng mưa ngoài trời.
  • Dòng chảy mặt: Lượng nước mưa không kịp thấm vào đất, chảy tràn trên bề mặt sườn dốc và là tác nhân trực tiếp gây xói mòn đất.
  • Độ ẩm đồng ruộng và điểm héo của đất: Giới hạn độ ẩm tối đa và tối thiểu trong đất mà thực vật có thể hút và sử dụng nước cho quá trình thoát hơi sinh lý.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua hệ thống quan trắc thực địa kết hợp điều tra giải tích trong phòng thí nghiệm. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 18 ô tiêu chuẩn định vị với diện tích 1.000 m2 mỗi ô (kích thước 25 m x 40 m) được bố trí trên 3 trạng thái rừng tự nhiên tiêu biểu: rừng phục hồi, rừng nghèo và rừng trung bình. Phương pháp chọn mẫu điển hình kết hợp trải đều theo 3 cấp độ dốc từ 12 độ đến 34 độ được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho toàn bộ miền phân bố địa hình của huyện Bạch Thông.

Để đo dòng chảy mặt và lượng đất xói mòn, đề tài thiết lập 9 bãi đo xói mòn định vị chuyên dụng có diện tích 100 m2 mỗi bãi (10 m x 10 m), xung quanh đắp bờ gờ cao 25 cm phủ nilon chống thấm, dẫn dòng chảy về hố thu có lắp đồng hồ đo lưu lượng độ phân giải 0,0001 m3 với độ chính xác đạt 2% đến 5%. Lượng mưa lọt tán được đo bằng hệ thống 12 ống đo mưa hình phễu chuyên dụng bố trí phân tầng. Khả năng thoát hơi nước của cây rừng được xác định bằng phương pháp cân nhanh Ivanov với chu kỳ 10 ngày một lần trên 15 cây tiêu chuẩn tầng cây cao và 15 cây tầng bụi; bốc hơi mặt đất được đo bằng ống vi thẩm kế mini đường kính 14 cm, cao 10 cm với tần suất 3 lần một tháng.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê hồi quy tương quan đa biến trên phần mềm SPSS và Excel là nhằm xác định chính xác phương trình toán học mô tả mối quan hệ giữa các chỉ tiêu cấu trúc lâm phần (độ tàn che, đường kính thân, chiều cao vút ngọn, độ che phủ thảm tươi) với các đại lượng thủy văn. Quá trình thu thập và xử lý số liệu được tiến hành liên tục theo chu kỳ mùa mưa và mùa khô trong suốt 12 tháng nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết các chỉ tiêu cấu trúc của 3 trạng thái rừng tự nhiên. Rừng trung bình thể hiện ưu thế vượt trội với mật độ đạt 910 cây/ha, đường kính ngang ngực trung bình đạt 25,6 cm, chiều cao vút ngọn 13,7 m và độ tàn che đạt 53%. Trong khi đó, trạng thái rừng phục hồi đạt mật độ 640 cây/ha, đường kính 24,6 cm, chiều cao 12,3 m, độ tàn che 46%. Kém nhất là trạng thái rừng nghèo với mật độ chỉ đạt 320 cây/ha, đường kính 13,0 cm, chiều cao 9,9 m và độ tàn che vỏn vẹn 21%.

Thứ hai, lượng dòng chảy mặt và xói mòn đất có sự phân hóa sâu sắc giữa các trạng thái lâm phần và cấp độ dốc. Tại các bãi đo xói mòn, lượng dòng chảy mặt ở trạng thái rừng nghèo cao hơn gấp 2,5 đến 3,2 lần so với rừng trung bình trên cùng một cấp độ dốc. Tương tự, lượng đất xói mòn bề mặt ở rừng nghèo tăng vọt theo độ dốc, trong khi ở rừng trung bình và rừng phục hồi, lượng đất mất luôn duy trì ở mức an toàn dưới ngưỡng tiêu chuẩn 0,8 mm/năm nhờ sự che phủ của tầng thảm mục và thảm tươi.

Thứ ba, khả năng thấm và giữ nước của đất tỷ lệ thuận với mức độ hoàn thiện cấu trúc rừng. Đất dưới tán rừng trung bình và rừng phục hồi có độ xốp tầng mặt dao động từ 52% đến 60%, độ dày tầng đất phổ biến từ 60 cm đến trên 100 cm, cho phép lượng nước thấm vào đất chiếm trên 85% tổng lượng mưa tiếp đất. Ngược lại, đất rừng nghèo bị nén chặt hơn, độ xốp thấp hơn từ 8% đến 12%, làm suy giảm đáng kể dung tích chứa nước tiềm năng của lưu vực.

Thứ tư, quá trình bốc thoát hơi nước đóng vai trò điều hòa vi khí hậu mạnh mẽ. Kết quả quan sát cho thấy tổng lượng bốc thoát hơi nước hàng năm của tầng cây gỗ và cây bụi chiếm từ 40% đến 65% tổng lượng mưa năm, biến động rõ rệt theo nhiệt độ môi trường (từ 21,4 độ C đến 36,3 độ C) và độ ẩm không khí.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội về khả năng giữ nước và chống xói mòn của rừng trung bình bắt nguồn từ cấu trúc phân tầng đa dạng. Tầng cây cao với độ tàn che trên 50% kết hợp cùng lớp cây bụi thảm tươi có độ che phủ từ 60% đến 75% đóng vai trò như các tầng đệm phân tán động năng hạt mưa. Nhờ đó, hạt mưa khi chạm tới mặt đất không làm phá vỡ kết cấu viên cục của tầng đất mặt, hạn chế tối đa hiện tượng đóng váng bề mặt.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu của các chuyên gia thủy văn rừng tại vùng hồ Hòa Bình và miền núi phía Bắc, kết quả tại Bạch Thông hoàn toàn tương đồng về quy luật: hệ số dòng chảy mặt tại các trạng thái rừng có độ tàn che cao chỉ dao động trong khoảng 5% đến 15%, trong khi ở những nơi thảm thực vật nghèo kiệt có thể lên tới 28% đến 35%. Điều này chứng minh rằng việc duy trì cấu trúc rừng khép tán là điều kiện tiên quyết để bảo vệ tài nguyên đất và duy trì dòng chảy kiệt trong mùa khô cho các hệ thống sông ngòi.

Về mặt trực quan hóa dữ liệu khoa học, các kết quả nghiên cứu này có thể được mô hình hóa hiệu quả thông qua biểu đồ phân tán hồi quy đa biến thể hiện mối liên hệ nghịch biến giữa độ tàn che tán rừng với lượng dòng chảy mặt, kết hợp bảng ma trận cân bằng nước chi tiết phản ánh tỷ lệ phân bổ của lượng mưa thành các thành phần: nước giữ trên tán, nước chảy men thân, nước thấm sâu và nước chảy tràn bề mặt.

Đề xuất và khuyến nghị

Từ các kết quả thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý cụ thể nhằm nâng cao năng lực phòng hộ thủy văn tại khu vực:

Thứ nhất, xúc tiến các biện pháp lâm sinh chuyển hóa và làm giàu rừng đối với 32.474,9 ha rừng nghèo kiệt trên địa bàn huyện. Cần tiến hành tỉa thưa vệ sinh rừng, tra dặm bổ sung các loài cây bản địa có tán dày, lá nhỏ và hệ rễ phát triển sâu nhằm nâng độ tàn che của tầng cây cao từ mức 21% hiện tại lên tối thiểu 50% đến 60%, mật độ cây đạt trên 600 cây/ha. Lộ trình thực hiện trong giai đoạn 3 đến 5 năm do Hạt Kiểm lâm Bạch Thông chủ trì, phối hợp cùng các chủ rừng và cộng đồng địa phương.

Thứ hai, thiết lập quy chế bảo vệ nghiêm ngặt tầng cây bụi, thảm tươi và lớp thảm khô mục dưới tán tại 19.401,0 ha rừng phòng hộ đầu nguồn. Tuyệt đối nghiêm cấm các hoạt động phát dọn trắng thực bì dưới tán rừng trên các sườn dốc trên 15 độ, duy trì độ che phủ của lớp thảm tươi tối thiểu đạt 70% nhằm đảm bảo cường độ xói mòn đất luôn dưới mức 0,8 mm/năm. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn chịu trách nhiệm thanh tra, giám sát định kỳ hàng quý.

Thứ ba, hiện đại hóa công tác giám sát thủy văn rừng thông qua việc xây dựng 3 đến 5 trạm quan trắc tự động về dòng chảy và xói mòn đất tại các xã xung yếu như Đôn Phong, Vi Hương và Mỹ Thanh. Việc lắp đặt các thiết bị đo cảm biến đo mưa và lưu lượng dòng chảy tự động sẽ giúp cảnh báo sớm nguy cơ lũ quét và sạt lở đất trong mùa mưa bão giai đoạn 2024 đến 2026 do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh điều phối.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng gắn với chỉ số điều tiết nguồn nước. Đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn áp dụng hệ số K phân hóa theo chất lượng cấu trúc rừng, tăng mức chi trả cho các diện tích rừng tự nhiên đạt độ tàn che trên 50% nhằm khuyến khích người dân vùng cao tham gia nhận khoán bảo vệ rừng bền vững ngay trong chu kỳ ngân sách tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực nghiệm trong luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp và tài nguyên môi trường: Bao gồm Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn và các cơ quan quản lý lưu vực sông. Nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác để phân định ranh giới rừng phòng hộ rất xung yếu, lập quy hoạch 3 loại rừng và xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật bảo vệ rừng đầu nguồn.

  • Ban quản lý rừng phòng hộ và các công ty lâm nghiệp địa phương: Cán bộ kỹ thuật có thể ứng dụng trực tiếp các tiêu chuẩn về độ tàn che, mật độ cây cao và độ che phủ thảm mục để thiết kế các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, khoanh nuôi tái sinh có trồng bổ sung và cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt trên các vùng đất dốc.

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng: Tài liệu là nguồn tham khảo phương pháp luận chuẩn mực về bố trí ô tiêu chuẩn 1.000 m2, thiết kế bãi đo xói mòn 100 m2 chuyên dụng, kỹ thuật đo thoát hơi nước Ivanov và các thuật toán phân tích cân bằng nước trên đất dốc miền núi.

  • Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị phát triển dự án môi trường: Các chuyên gia đánh giá tác động môi trường và phát triển tín chỉ chi trả dịch vụ hệ sinh thái có thể khai thác các hệ số định lượng về dòng chảy mặt, lượng giữ ẩm đất và bảo tồn đất để xây dựng hồ sơ dự án thích ứng biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao rừng tự nhiên nhiều tầng tán lại có khả năng giảm lũ quét vượt trội so với đất trống đồi núi trọc?
Rừng tự nhiên sở hữu cấu trúc đa tầng giúp phân tán động năng hạt mưa và tăng độ xốp đất lên trên 55%. Lớp thảm mục và hệ thống rễ cây giữ lại một phần lớn lượng mưa, làm chậm thời gian tập trung dòng chảy mặt và tăng lượng nước thấm sâu vào đất hơn 85%, qua đó cắt giảm đỉnh lũ hiệu quả.

Cấu trúc trạng thái rừng nghèo tại Bạch Thông ảnh hưởng thế nào đến khả năng giữ nước?
Rừng nghèo tại khu vực chỉ đạt độ tàn che 21% và mật độ 320 cây/ha. Tán rừng thưa thớt khiến lượng mưa rơi trực tiếp xuống mặt đất lớn, dòng chảy mặt tăng gấp 2,5 đến 3,2 lần so với rừng trung bình, dẫn đến nguy cơ xói mòn đất bề mặt tăng cao trên các sườn dốc.

Phương pháp bãi đo xói mòn diện tích 100 m2 có ưu điểm gì trong nghiên cứu thủy văn rừng?
Bãi đo kích thước 10 m x 10 m bố trí vuông góc đường đồng mức phản ánh đầy đủ ảnh hưởng thực tế của độ dốc và vi địa hình đến dòng chảy. Hệ thống bờ bao cách ly cùng đồng hồ đo lưu lượng chuyên dụng giúp định lượng chính xác lượng nước chảy tràn và lượng bùn cát lắng đọng với sai số dưới 5%.

Tầng cây bụi và thảm tươi đóng vai trò gì trong việc hạn chế dòng chảy mặt?
Tầng cây bụi thảm tươi tạo lớp phủ sát mặt đất với độ cao trung bình dưới 2 m, hấp thụ trực tiếp các giọt nước mưa lọt tán. Khi độ che phủ thảm tươi đạt trên 70%, tốc độ dòng chảy mặt bị cản trở mạnh, tạo điều kiện cho nước mưa ngấm dần vào các tầng đất sâu.

Tiêu chuẩn cấu trúc lâm phần nào được xem là tối ưu cho rừng phòng hộ đầu nguồn tại Bắc Kạn?
Lâm phần phòng hộ đạt hiệu quả tối ưu khi duy trì độ tàn che tầng cây cao từ 50% đến 60%, mật độ đạt trên 600 cây/ha, kết hợp độ che phủ tầng cây bụi thảm tươi trên 70% và lớp thảm khô mục phủ kín mặt đất, đảm bảo cường độ xói mòn dưới 0,8 mm/năm.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng hóa toàn diện các thành phần cân bằng nước và xói mòn đất tại 3 trạng thái rừng tự nhiên phổ biến ở huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
  • Xác định rõ mối tương quan nghịch biến chặt chẽ giữa độ tàn che tán rừng (>50%) và độ che phủ thảm tươi (>70%) với lưu lượng dòng chảy mặt và khối lượng đất bị xói mòn trên các sườn dốc từ 12 độ đến 34 độ.
  • Cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm đáng tin cậy từ 18 ô tiêu chuẩn 1.000 m2 và 9 bãi đo xói mòn 100 m2 định vị chuẩn xác bằng thiết bị chuyên dụng.
  • Đề xuất khung giải pháp đồng bộ gồm phục hồi 32.474,9 ha rừng nghèo, bảo vệ nghiêm ngặt thảm mục tại 19.401,0 ha rừng phòng hộ và thiết lập mạng lưới quan trắc thủy văn tự động.
  • Khẳng định giá trị của việc gắn kết quản lý cấu trúc lâm phần với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng nhằm bảo vệ bền vững nguồn nước lưu vực sông Cầu.

Các nhà quản lý lâm nghiệp và chính quyền địa phương cần sớm đưa các tiêu chuẩn cấu trúc rừng phòng hộ này vào kế hoạch hành động lâm nghiệp giai đoạn 2025-2030 để chủ động bảo vệ nguồn nước và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.