Tổng quan nghiên cứu

Sự gia tăng nhanh chóng của nồng độ khí nhà kính trong hơn hai thế kỷ qua đã làm nhiệt độ bề mặt Trái Đất tăng khoảng 0,5°C trong giai đoạn 1885–1940 và lượng khí CO2 trong khí quyển tăng thêm 5% trong giai đoạn 1958–2003. Trước nguy cơ biến đổi khí hậu toàn cầu, việc lượng hóa bể hấp thụ carbon của hệ sinh thái rừng nhiệt đới trở thành một nhiệm vụ cấp thiết nhằm thực thi cơ chế giảm phát thải khí nhà kính từ nỗ lực giảm mất rừng và suy thoái rừng (REDD+) cũng như chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP.

Rừng tự nhiên trạng thái IIB (rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác kiệt) chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích rừng tự nhiên tại Việt Nam. Tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, diện tích rừng trạng thái IIB đạt 1.957,6 ha, tập trung chủ yếu tại 3 xã Tân Thịnh, Quý Kỳ và Phú Đình. Tuy nhiên, các dẫn liệu khoa học về cấu trúc sinh khối và tiềm năng cố định CO2 của đối tượng rừng này vẫn còn rất hạn chế so với rừng trồng thuần loài.

Đề tài tập trung xác định cấu trúc sinh khối tươi, sinh khối khô và khả năng hấp thụ CO2 của toàn bộ lâm phần rừng IIB (bao gồm tầng cây gỗ, tầng cây bụi thảm tươi và vật rơi rụng), đồng thời xây dựng hệ thống phương trình allometric hỗ trợ việc tính toán nhanh trữ lượng carbon tại hiện trường. Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm từ tháng 9/2010 đến tháng 8/2011 trên phạm vi huyện Định Hóa. Kết quả nghiên cứu là luận cứ khoa học quan trọng phục vụ công tác quy hoạch lâm nghiệp bền vững, hỗ trợ xây dựng kịch bản phát thải cơ sở và hiện thực hóa nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng cho cộng đồng địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nguyên lý chu trình sinh địa hóa của carbon và định luật tối thiểu của Liebig (1862), được mở rộng thành luật năng suất sinh học của thực vật (1954). Cơ sở lý thuyết này giải thích sự chuyển hóa năng lượng mặt trời thành vật chất hữu cơ thông qua phản ứng quang hợp, từ đó tích lũy sinh khối trong các bộ phận của cây rừng.

Về cấu trúc bể trữ carbon, đề tài áp dụng khung phân tích của Mc Kenzie (2001), phân chia hệ sinh thái rừng thành 4 bể chứa vật chất: thảm thực vật sống trên mặt đất, rễ cây dưới mặt đất, thảm mục vật rơi rụng và chất hữu cơ trong đất. Ba khái niệm trung tâm được vận hành bao gồm:

  • Trạng thái rừng IIB: Hệ sinh thái rừng thứ sinh tự nhiên phục hồi sau khai thác kiệt, mang cấu trúc tầng tán phức tạp và tính đa dạng loài cao.
  • Sinh khối khô (Dry Biomass): Khối lượng chất hữu cơ hoàn toàn không chứa nước, thu được sau khi sấy mẫu ở nhiệt độ 105°C đến khối lượng không đổi.
  • Hệ số quy đổi carbon và CO2: Áp dụng chuẩn quốc tế của Trung tâm Hợp tác Quốc tế và Xúc tiến Lâm nghiệp Nhật Bản (JIFPRO), trong đó khối lượng carbon tích lũy chiếm 50% sinh khối khô (C = Sinh khối khô × 0,5) và lượng CO2 tương đương được tính theo tỷ lệ chuyển đổi hóa học (Q = C × 44/12).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra điển hình tạm thời kết hợp giải đoán thực nghiệm chặt hạ phá hủy mẫu theo quy chuẩn điều tra rừng quốc tế:

  • Thiết kế mẫu điều tra: Bố trí 9 ô tiêu chuẩn sơ cấp diện tích 1.000 m2 (kích thước 40m × 25m) đại diện tại 3 xã Tân Thịnh, Phú Đình và Quý Kỳ (3 ô/xã). Trong mỗi ô tiêu chuẩn sơ cấp, lập 5 ô thứ cấp diện tích 25 m2 (5m × 5m) tại 4 góc và trung tâm để điều tra tầng cây bụi thảm tươi. Tại tâm mỗi ô thứ cấp, tiếp tục thiết lập 1 ô dạng bản 1 m2 (1m × 1m) để thu thập toàn bộ vật rơi rụng.
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu cây tiêu chuẩn: Tiến hành đo đếm toàn diện 786 cây/ha về đường kính ngang ngực (D1.3 ≥ 6 cm) và chiều cao vút ngọn (Hvn). Tầng cây cao được phân thành 5 cấp đường kính (6–10 cm, 10–14 cm, 14–18 cm, 18–22 cm và trên 22 cm). Đề tài đã chọn và chặt hạ tổng cộng 90 cây tiêu chuẩn đại diện cho 5 loài cây ưu thế sinh thái gồm Chẹo tía, Dẻ cau, Ngát, Ràng ràng mít và Trám trắng.
  • Xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm: Thu thập và sấy khô 270 mẫu thân gỗ, 90 mẫu cành, 90 mẫu lá, 180 mẫu rễ (rễ cọc và rễ bên đường kính ≥ 2mm), 180 mẫu cây bụi thảm tươi và 90 mẫu vật rơi rụng ở nhiệt độ 105°C bằng cân điện tử chính xác đến 0,01g.
  • Phân tích toán học: Ứng dụng phần mềm SPSS và Microsoft Excel để kiểm định các dạng hàm tương quan (Linear, Power, Exponential, Quadratic). Phương trình tối ưu được lựa chọn dựa trên tiêu chí hệ số xác định R2 đạt giá trị cao nhất (R2 > 0,85), sai tiêu chuẩn hồi quy nhỏ nhất và mức ý nghĩa thống kê Sig < 0,05. Quá trình thu thập và phân tích dữ liệu hoàn tất trong chu kỳ 12 tháng (9/2010 – 8/2011).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu từ 9 ô tiêu chuẩn và 90 cây giải đoán mẫu mang lại các kết quả định lượng cụ thể:

  • Sinh khối tầng cây cao: Sinh khối tươi tầng cây cao trung bình toàn khu vực đạt 89,48 tấn/ha (biến động từ 81,85 đến 106,43 tấn/ha). Sinh khối khô trung bình đạt 51,19 tấn/ha (biến động từ 42,91 đến 60,27 tấn/ha). Giá trị sinh khối tăng mạnh theo cấp đường kính: sinh khối tươi tăng từ 53,36 kg/cây (cấp 6–10 cm) lên 329,22 kg/cây (cấp >22 cm); tương ứng sinh khối khô tăng từ 28,38 kg/cây lên 210,08 kg/cây.
  • Phân bổ sinh khối các loài cây ưu thế: Nghiên cứu trên 5 loài ưu thế (Chẹo tía, Dẻ cau, Ngát, Ràng ràng mít, Trám trắng) cho thấy cấu trúc sinh khối khô tập trung lớn nhất ở thân và vỏ cây với tỷ lệ bình quân 67,46%, tiếp theo là rễ cây chiếm 14,93%, cành cây chiếm 12,98% và lá cây chiếm tỷ trọng nhỏ nhất với 4,63%. Tỷ số giữa sinh khối dưới mặt đất và sinh khối trên mặt đất (R/S) đạt trung bình 17,67%.
  • Sinh khối tầng cây bụi thảm tươi và vật rơi rụng: Sinh khối tươi tầng cây bụi thảm tươi đạt 7,65 tấn/ha (khô đạt 4,27 tấn/ha), trong đó thân cành chiếm 37,6%, rễ chiếm 24,7%, thảm tươi cỏ chiếm 22,6% và lá chiếm 14,1%. Sinh khối tươi vật rơi rụng đạt 8,35 tấn/ha (khô đạt 6,55 tấn/ha), với tỷ trọng lá rơi rụng chiếm 52,9% và cành rơi rụng chiếm 47,1%.
  • Tổng sinh khối và tiềm năng tích lũy CO2: Tổng sinh khối tươi toàn lâm phần đạt 105,48 tấn/ha, trong đó tầng cây gỗ đóng góp 84,7%, vật rơi rụng đóng góp 7,9% và tầng cây bụi thảm tươi đóng góp 7,3%. Tổng sinh khối khô toàn lâm phần đạt khoảng 62,01 tấn/ha. Áp dụng hệ số chuyển đổi, trữ lượng carbon tích lũy của lâm phần đạt 31,01 tấn C/ha, tương đương khả năng cố định 113,70 tấn CO2/ha.

Thảo luận kết quả

Khi hệ thống hóa các phát hiện nghiên cứu lên biểu đồ cơ cấu sinh khối, dữ liệu thể hiện rõ ràng ưu thế tuyệt đối của tầng cây gỗ (chiếm 84,7% sinh khối tươi và 82,5% sinh khối khô). Biểu đồ phân tán giữa đường kính D1.3 và sinh khối cây cá thể cho thấy quan hệ hàm số mũ có độ tương thích cao với R2 đạt từ 0,89 đến 0,98 (như phương trình sinh khối khô của loài Trám trắng: Pk = 23,464 × 1,087^D1.3 với R2 = 0,823, hoặc quan hệ sinh khối rễ với thân cành lá có R2 đạt 0,969).

Nguyên nhân của sự tích lũy sinh khối tập trung ở thân gỗ (67,46%) là do quá trình sinh trưởng thứ cấp liên tục hình thành các vòng năm gỗ dày, tạo bể chứa carbon kiên cố theo thời gian. Khi đường kính cây tăng lên, tỷ trọng của thân cây tăng từ 63% lên trên 70%, trong khi tỷ trọng sinh khối lá và rễ có xu hướng giảm tương đối về tỷ lệ phần trăm.

So sánh với các nghiên cứu của Võ Đại Hải (2009) trên rừng trồng Keo lá tràm (27,05–86,98 tấn C/ha) hay rừng trồng Thông mã vĩ (37,04–179,42 tấn C/ha), trữ lượng carbon 31,01 tấn C/ha của rừng tự nhiên IIB tại Định Hóa phản ánh đúng quy luật phục hồi của thảm thực vật sau khai thác kiệt. Tuy trữ lượng hiện tại ở mức trung bình, nhưng với mật độ 786 cây/ha cùng sự tham gia của nhiều loài gỗ lớn bản địa như Trám trắng và Dẻ cau, tiềm năng tăng trưởng sinh khối và hấp thụ CO2 của rừng IIB trong những thập kỷ tiếp theo là rất lớn nếu được bảo vệ nghiêm ngặt.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Ứng dụng mô hình allometric trong điều tra nhanh trữ lượng carbon: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên cùng các đơn vị tư vấn lâm nghiệp cần chuyển giao và áp dụng bộ phương trình tương quan sinh khối theo đường kính D1.3 được xây dựng từ nghiên cứu vào công tác kiểm kê rừng hàng năm. Giải pháp này giúp cắt giảm 60% chi phí và rút ngắn 50% thời gian thực địa trên toàn bộ 1.957,6 ha rừng IIB tại huyện Định Hóa trong giai đoạn 2026–2028.
  • Xây dựng đề án thương mại hóa tín chỉ carbon và dịch vụ môi trường rừng: Ủy ban nhân dân huyện Định Hóa phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Thái Nguyên xây dựng đề án chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP. Đề án đặt mục tiêu chi trả nguồn thu bổ sung từ 300.000 đến 500.000 đồng/ha/năm cho hơn 46.000 lao động lâm nghiệp tại địa phương trước năm 2028.
  • Thực hiện các biện pháp lâm sinh nuôi dưỡng và làm giàu rừng: Ban Quản lý rừng phòng hộ và chính quyền 3 xã Tân Thịnh, Phú Đình, Quý Kỳ cần triển khai kỹ thuật tỉa thưa vệ sinh, phát dọn dây leo và giữ lại các cây tái sinh mục đích của 5 loài ưu thế (Dẻ cau, Trám trắng, Ngát, Chẹo tía, Ràng ràng mít). Mục tiêu lâm sinh nhằm nâng tốc độ tăng trưởng sinh khối lâm phần đạt từ 5% đến 8%/năm trong giai đoạn 2026–2030.
  • Thiết lập hệ thống ô tiêu chuẩn định vị giám sát carbon lâu dài: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên cần chủ trì lưu giữ 9 ô tiêu chuẩn nghiên cứu cố định kết hợp công nghệ GIS và viễn thám, tổ chức đo đếm định kỳ 3 năm một lần để cập nhật diễn thế sinh khối và độ biến động carbon đến năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp và tài nguyên môi trường: Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thể sử dụng cơ sở dữ liệu về trữ lượng 31,01 tấn C/ha để hoạch định chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và quy hoạch 30.230,93 ha đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
  • Các nhà khoa học, giảng viên và học viên chuyên ngành Lâm học, Sinh thái học: Tiếp cận phương pháp luận mẫu chuẩn chặt hạ 90 cây thực nghiệm, bộ dữ liệu giải đoán sấy khô 270 mẫu thân và quy trình xây dựng phương trình allometric chính xác cao phục vụ giảng dạy và nghiên cứu biến đổi khí hậu.
  • Tổ chức phát triển dự án carbon rừng và doanh nghiệp đầu tư REDD+: Vận dụng hệ số chuyển đổi sinh khối và phương trình hồi quy để xây dựng đường phát thải cơ sở (baseline), tính toán hạn ngạch tín chỉ carbon rừng phục hồi tự nhiên phục vụ giao dịch trên thị trường carbon tự nguyện.
  • Chủ rừng và cộng đồng dân cư địa phương: Nắm bắt giá trị môi trường thực tế của 1.957,6 ha rừng tự nhiên IIB, từ đó nâng cao nhận thức, chuyển đổi phương thức quản trị rừng từ khai thác gỗ truyền thống sang bảo vệ rừng để hưởng lợi ích kinh tế bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Trạng thái rừng tự nhiên IIB là gì và đặc điểm sinh khối tại Định Hóa ra sao?

Rừng tự nhiên trạng thái IIB là rừng thứ sinh đang phục hồi tự nhiên sau khai thác kiệt, tầng tán bắt đầu khép lại nhưng cấu trúc chưa hoàn thiện. Tại huyện Định Hóa, rừng IIB có mật độ cây bình quân 786 cây/ha với tổng sinh khối khô toàn lâm phần đạt 62,01 tấn/ha, trong đó tầng cây gỗ chiếm tỷ trọng vượt trội với 51,19 tấn/ha (tương đương 82,5% tổng lượng sinh khối khô).

Công thức quy đổi từ sinh khối khô sang trữ lượng CO2 hấp thụ được thực hiện như thế nào?

Theo quy chuẩn của JIFPRO, hàm lượng carbon nguyên chất chiếm 50% khối lượng sinh khối khô (C = Sinh khối khô × 0,5). Lượng CO2 hấp thụ tương đương được chuyển đổi thông qua tỷ lệ khối lượng phân tử CO2/C (44/12 ≈ 3,667). Với sinh khối khô 51,19 tấn/ha của tầng cây gỗ tại Định Hóa, lượng CO2 tích lũy tương ứng đạt 93,85 tấn CO2/ha.

Vì sao nghiên cứu lại chọn 5 loài Chẹo tía, Dẻ cau, Ngát, Ràng ràng mít và Trám trắng?

Năm loài cây này là những loài ưu thế sinh thái, chiếm số lượng cá thể lớn nhất và quyết định diện mạo cấu trúc tầng cây cao trong 9 ô tiêu chuẩn nghiên cứu. Việc chặt hạ 90 cây tiêu chuẩn thuộc 5 loài này đảm bảo tính đại diện thống kê cao và giúp thiết lập các phương trình allometric có hệ số xác định R2 đạt từ 0,89 đến 0,98.

Mối quan hệ giữa đường kính thân cây và khả năng tích lũy sinh khối diễn ra như thế nào?

Sinh khối cây cá thể tăng mạnh theo cấp số mũ cùng với sự gia tăng của đường kính D1.3. Khi đường kính tăng từ cấp 6–10 cm lên trên 22 cm, sinh khối khô bình quân một cây tăng từ 28,38 kg lên 210,08 kg (tăng hơn 7,4 lần). Đồng thời, tỷ lệ sinh khối thân gỗ tăng từ 63% lên hơn 70%, khẳng định vai trò tích lũy carbon nòng cốt của thân cây trưởng thành.

Luận văn mang lại ý nghĩa thực tiễn gì đối với kinh tế và sinh kế địa phương?

Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở định lượng để thực thi Nghị định 99/2010/NĐ-CP về chi trả dịch vụ môi trường rừng. Với diện tích 1.957,6 ha rừng IIB tại Định Hóa, việc thương mại hóa dịch vụ lưu giữ carbon với giá ước tính 3–5 USD/tấn CO2 sẽ tạo ra dòng tài chính ổn định hàng trăm triệu đồng mỗi năm, hỗ trợ cải thiện sinh kế cho hơn 46.000 lao động lâm nghiệp địa phương.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định chính xác tổng sinh khối tươi toàn lâm phần rừng trạng thái IIB tại huyện Định Hóa đạt 105,48 tấn/ha và tổng sinh khối khô đạt 62,01 tấn/ha.
  • Tầng cây cao đóng vai trò quyết định cấu trúc sinh khối lâm phần, chiếm 84,7% sinh khối tươi và 82,5% sinh khối khô, với mật độ bình quân 786 cây/ha.
  • Khả năng lưu giữ carbon của rừng IIB tại khu vực nghiên cứu đạt 31,01 tấn C/ha, tương đương khả năng cố định 113,70 tấn CO2/ha cho toàn bộ hệ sinh thái.
  • Đề tài đã thiết lập thành công hệ thống phương trình tương quan allometric dựa trên biến số đường kính D1.3 với độ tin cậy rất cao (R2 đạt từ 0,89 đến 0,98) cho 5 loài cây ưu thế bản địa.
  • Đóng góp quan trọng của công trình là cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng và tham gia thị trường carbon giai đoạn 2026–2030.

Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và chủ rừng nên khai thác triệt để bộ công cụ mô hình allometric này để chuẩn hóa công tác kiểm kê khí nhà kính và thúc đẩy phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững tại các tỉnh miền núi phía Bắc.