chương 1, các nghiên cứu liên quan, cơ sở lý thuyết cũng như các khái niệm, lý thuyết nền và mô hình nghiên cứu cuối cùng sẽ được tác giả thể hiện tại chương 2 của nghiên cứu này. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT. Thương hiệu tuyển dụng (Employer Branding). Khái niệm của Thương hiệu tuyển dụng.
Trong thị trường kinh tế biến động và có sự cạnh tranh đầy khốc liệt, thương hiệu tuyển dụng của một doanh nghiệp chính là điểm nhận dạng, sự khác biệt so với phần còn lại của thị trường, chính vì thế EB chính là một quân cờ mà doanh nghiệp không thể thiếu trong quá trình phát triển bên cạnh phát triển thương hiệu sản phẩm (Dabirian và cộng sự, 2019). Sự khác biệt với các đối thủ cạnh tranh có thể đạt được bằng cách áp dụng thương hiệu nhà tuyển dụng trong tổ chức. Khái niệm “Thương hiệu tuyển dụng” được ra đời bởi các chính sách quản lý nguồn nhân lực cũng như sự phát triển nhận dạng doanh nghiệp. Ngoài ra, “Thương hiệu tuyển dụng” được xác định là một trong những cộng của doanh nghiệp trong mắt ứng viên về các khoản lợi ích, lý do cống hiến cho doanh nghiệp trước khi ứng tuyển vào công ty được định hình bởi nhà tuyển dụng (Timbler và Barrow, 1996).
Theo phân tích của Dabrian và cộng sự (2019) thì ứng viên có quyết định mạnh mẽ để ứng tuyển vào các doanh nghiệp có môi trường làm việc thuận lợi, có các ưu điểm về mặt cơ sở vật chất, phương pháp làm việc linh hoạt cốt yếu được chứng minh được qua sự cố gắng xây dựng EB của doanh nghiệp đó. Tổng kết lại, EB là hình ảnh, đánh giá và công nhận của một công ty hoặc tổ chức trong việc thu hút và tuyển dụng nhân viên. Nó liên quan đến cách mà công ty được công chúng, ứng viên và cộng đồng xem nhìn và đánh giá. EB góp phần xây dựng niềm tin và hấp dẫn đối với ứng viên tiềm năng, từ đó thu hút những ứng viên ưu tú và có tố chất phù hợp với văn hóa, giá trị và mục tiêu của công ty.
Các đặc điểm và xây dựng thương hiệu tuyển dụng. Những đặc điểm khác nhau trong thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu tiêu dùng đã đáp ứng được nhu cầu tâm lý hợp đồng và sở hữu ngoài ý muốn các giá trị thương hiệu. Mặt khác, các nhà nghiên cứu định nghĩa sự hấp dẫn và tính chính xác là tiêu chí đánh giá thương hiệu tuyển dụng thành công và không thành. Với nghiên cứu 8 của Võ Thành Nhân (2023) và Khan (2017) cũng chỉ ra các nhân tố của QD có tác động tích cực đến EB của chính doanh nghiệp.
Xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng là việc áp dụng các nguyên tắc tiếp thị trong quản lý nguồn nhân lực (Turban, 2001). Nhà tuyển dụng xác định quy trình được thiết kế và thực hiện ổn định để phát triển và duy trì danh tiếng tốt của công ty với thành phần cơ bản thông qua việc gửi tín hiệu đến các bên liên quan thông qua hành vi, giao tiếp và hình ảnh sử dụng bản sắc công ty. Sự tương đồng về đặc điểm tạo sức ép cho thương hiệu người xin việc và doanh nghiệp với thương hiệu nhà tuyển dụng. Được chú ý và được biết đến, được nhìn thấy phù hợp và có tiếng vang, đồng thời khác biệt với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp.
Các đặc điểm của các loại thương hiệu khác có thể được nhìn thấy trong thương hiệu nhà tuyển dụng. Xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng là một phương pháp để công ty thu hút nhân tài tiềm năng cao trên thị trường lao động. Các tổ chức phải cố gắng tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh và được coi là nhà tuyển dụng hấp dẫn đối với ứng viên tiềm năng hoặc nhân viên hiện tại (Lievens và cộng sự, 2003). Xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng cũng có thể được xem xét bằng nỗ lực của các công ty để truyền đạt với nhân viên hoặc ứng viên hiện tại về họ như một nơi làm việc tuyệt vời (Berthon và cộng sự, 2005).
Trong giai đoạn nghiên cứu tiếp theo, kết quả đã chỉ ra rằng thương hiệu dựa trên nhân viên của tổ chức sự công bằng ảnh hưởng tích cực đến quá trình ra quyết định của nhân viên tiềm năng về mặt tín hiệu thương hiệu nhà tuyển dụng bao gồm sự rõ ràng, nhất quán, uy tín và đầu tư vào thương hiệu. Nhà tuyển dụng càng hấp dẫn thì tài sản thương hiệu nhà tuyển dụng càng mạnh. Thương hiệu nhà tuyển dụng luôn gắn liền với việc thu hút nhân tài cho các tổ chức và tỷ lệ giữ chân cao hơn (Ahmad và cộng sự, 2016). Quyết định ứng tuyển (Decision to Apply).
Khái niệm “Quyết định ứng tuyển” có thể được hiểu trong ngữ cảnh của quá trình ra quyết định. Việc quyết định là một kỹ năng quan trọng bao gồm việc đánh giá các phương án khác nhau và chọn phương án phù hợp nhất để đạt được một hoặc nhiều mục tiêu và quá trình này thường bị ảnh hưởng bởi khả năng, giá trị, sở thích và niềm tin của cá nhân. 9 Trong một ngữ cảnh cấu trúc hơn, quá trình ra quyết định có thể được chia thành một số bước theo mô hình của Lussier và cộng sự (2017): Hình 2. Quá trình ra quyết định ứng tuyển.
Nguồn: (Lussier và cộng sự, 2017) ● Phân loại và định rõ vấn đề hoặc cơ hội: Bước này liên quan đến việc xác định vấn đề cần được giải quyết hoặc cơ hội có thể được khai thác. ● Đặt mục tiêu và tiêu chí: Bước này liên quan đến việc xác định những gì bạn muốn đạt được và các tiêu chí sẽ hướng dẫn quyết định của bạn. ● Tạo ra các phương án sáng tạo và đổi mới: Bước này liên quan đến việc đưa ra các giải pháp hoặc hành động khác nhau. ● Phân tích các phương án và chọn phương án khả thi nhất: Bước này liên quan đến việc đánh giá từng phương án so với các tiêu chí đã đặt và chọn phương án phù hợp nhất.
● Lập kế hoạch và thực hiện quyết định: Một khi quyết định đã được đưa ra, bước này liên quan đến việc lập kế hoạch hành động và thực hiện nó. ● Kiểm soát quyết định: Bước này liên quan đến việc giám sát kết quả của quyết định và điều chỉnh nếu cần thiết. Khái niệm “Quyết định nộp đơn” có thể được coi là một trường hợp cụ thể của quá trình ra quyết định này, nơi quyết định cần được đưa ra là có nên nộp đơn cho một cái gì đó (ví dụ, một công việc, một chương trình đại học, một khoản vay, v. Cá nhân sẽ đi qua các bước trên, xem xét các nhân tố khác nhau như yêu cầu, lợi ích và kết quả tiềm năng của việc nộp đơn, để đưa ra một quyết định thông thái.
Điều quan trọng cần lưu ý là ra quyết định là một quá trình phức tạp có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, bao gồm cả sự không chắc chắn và có thể sử dụng các phương pháp khác nhau để đưa ra quyết định hợp lý trong điều kiện chắc chắn, không biết, rủi ro và không chắc chắn. Hiểu được những khái niệm này có thể giúp cá nhân 10 đưa ra quyết định tốt hơn. Quá trình ra quyết định ứng tuyển vào một doanh nghiệp có thể bao gồm các bước sau đây: Hình 2. Quá trình đưa ra quyết định ứng tuyển tại doanh nghiệp.
Nguồn: (Lussier và cộng sự, 2017) Nghiên cứu và tìm hiểu về doanh nghiệp: Trước khi quyết định ứng tuyển, bạn nên tìm hiểu về doanh nghiệp mà bạn quan tâm. Điều này bao gồm việc tìm hiểu về lĩnh vực hoạt động của công ty, văn hóa tổ chức, giá trị và mục tiêu của công ty (Ví dụ: Hiện tại bản thân đang hướng đến làm việc tại các doanh nghiệp là nhà thầu chính trong lĩnh vực xây dựng, và Boustead Project Limited là một trong các sự lựa chọn chính sau khi khảo sát thông tin doanh nghiệp, định lượng sự phù hợp). Xem xét yêu cầu và mục tiêu cá nhân: Đánh giá xem vị trí công việc mà doanh nghiệp đang tuyển dụng có phù hợp với kỹ năng, kinh nghiệm và mục tiêu cá nhân của bạn không? (Ví dụ: Doanh nghiệp Boustead Project Limited tìm vị trí Nhân viên kinh doanh với bằng đại học từ chuyên ngành quản trị Kinh doanh, có hiểu biết về các dự án xây dựng). Hãy xem xét xem công việc này có khả năng phát triển sự nghiệp và đáp ứng các mục tiêu dài hạn của bạn không (Xem xét mình đã có bằng đại học như yêu cầu cũng như từng có kinh nghiệm làm bên mảng xây dựng là các nhà thầu chính tương đương với doanh nghiệp Boustead hay không?).
Tạo ra phương án, xem xét và lập kế hoạch: Tổng hợp kinh nghiệm bản thân trong lĩnh vực, trình bày đầy đủ kinh nghiệm bản thân và tạo hồ sơ xin việc. Đảm bảo rằng hồ sơ của bạn phản ánh đầy đủ kinh nghiệm, học vấn và kỹ năng liên quan đến vị trí công việc bạn đang ứng tuyển. Đảm bảo rằng bạn tuân thủ các hướng dẫn và thời hạn nộp hồ sơ. Nếu hồ sơ của bạn được chọn, bạn có thể được mời tham gia phỏng vấn.
Chuẩn bị cho phỏng vấn bằng cách nghiên cứu về doanh nghiệp, chuẩn bị câu trả lời cho các câu hỏi phỏng vấn thông thường và thực hành phỏng vấn (Trong một số trường 11 hợp, sau phỏng vấn ban đầu, doanh nghiệp có thể yêu cầu kiểm tra thêm hoặc tổ chức cuộc thảo luận để đánh giá kỹ năng chuyên môn hoặc tìm hiểu sâu hơn về ứng viên). Quyết định và đưa ra quyết định: Sau khi hoàn thành quá trình chọn lọc thông tin, lên kế hoạch và đưa ra các phương án có thể xảy ra. Bản thân cũng cần đánh giá lại một lần nữa xem công việc và điều kiện làm việc có phù hợp với bạn không trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Tác giả Spence sau khi phân tích tích thị trường lao động vào những năm thập niên 70, ông đã cho ra đời Lý thuyết Tín hiệu (Signaling theory) năm 1973 để thể hiện sự liên quan khăng khít trong chuyên môn tuyển dụng thời bấy giờ.
Lý thuyết này giúp ta có một góc nhìn chuyên sâu về nhà tuyển dụng đang truyền tải và sự tiếp nhận thông tin của các ứng viên tiềm năng.