ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một nước nông nghiệp, được hình thành và phát triển từ rất lâu. Những năm gần đây, cùng với xu thế phát triển chung của xã hội, ngành nông nghiệp Việt Nam cũng đã phát triển không ngừng có được điều đó là nhờ ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật. Trong đó, ngành phân bón luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển ngành nông nghiệp trồng trọt, nó quyết định cả về chất lượng cũng như sản lượng thu hoạch của cây trồng, điều này đã được khẳng định từ xưa và cho đến bây giờ vẫn giữ nguyên giá trị. Thấy được tầm quan trọng đó, ngay từ những ngày đầu lập nước, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến phát triển ngành sản xuất phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Trong đó, ngành sản xuất phân bón vô cơ, phân hỗn hợp NPK ở Việt Nam đến nay đã có những thành tựu phát triển quan trọng cả về quy mô và chất lượng, bên cạnh đó lĩnh vực phân bón hữu cơ, phân vi sinh mặc dù đã xuất hiện từ lâu nhưng chỉ ở quy mô nhỏ lẻ tại các hộ nông dân và đa số là ở dạng phân hữu cơ để tận dụng các phụ phế liệu nông nghiệp của gia đình như trấu, vỏ cà phê, chất thải chăn nuôi… Thực tế sản xuất nông nghiệp đã khẳng định vai trò thiết yếu của phân hữu cơ hay phân hữu cơ vi sinh trong việc duy trì độ phì nhiêu của đất, ổn định năng suất cây trồng, góp phần vào sản xuất nông nghiệp bền vững. Tuy nhiên, hiện nay nguồn phân hữu cơ từ chất thải của gia súc ngày càng khan hiếm không đủ để đáp ứng cho canh tác nông nghiệp hiện đại, trong khi đó nguồn nguyên liệu từ các phụ phế liệu của hầu hết các nhà máy chế biến lại rất nhiều, đây là một nguồn hữu cơ qúy giá để sản xuất phân hữu cơ vi sinh, trong đó có phụ phế liệu của nhà máy mía đường vì lượng bã mía, bã bùn, rỉ mật thải là rất lớn, lại giàu hữu cơ dễ chuyển hóa, không chỉ vậy trên thực tế n 2 thử nghiệm phân hữu cơ vi sinh được sản xuất từ nguồn chất thải của nhà máy mía đường được cho là phù hợp với rất nhiều loại cây hơn so với các nguồn nguyên liệu khác như vỏ cà phê, trấu, bã sắn,… Mặt khác tại Việt Nam nói chung và tại Sơn Dương – Tuyên Quang nói riêng những năm qua, cây mía đã góp phần tích cực trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội, giải quyết việc làm và làm thay đổi bộ mặt nông thôn mới tại các địa phương. Tại nhà máy đường Sơn Dương trung bình mỗi năm sản lượng đạt trên 500000 tấn,năm 2013 diện tích mía canh tác đạt trên 11000 ha, sản lượng đạt trên 570000 tấn, công suất ép đạt 3500 tấn/ ngày, (2).Với số lượng sản lượng lớn như thế lượng phế thải thải ra hàng năm cũng rất lớn, nếu không có cách sử lý hiệu quả sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống người dân và nhiều vấn đề khác. Do những lý do trên tôi chọn đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp xử lý phế thải mía đường tại nhà máy đường Sơn Dương – Tuyên Quang” để nghiên cứu rõ quy trình làm phân hữu cơ vi sinh từ phế thải mía đường, giúp người đọc hiểu hơn về lợi ích của việc sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ chính phế thải của mía đường.
Sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ phế thải mía đường của nhà máy vừa xử lý, vừa tái tạo phế thải thành phân bón cho cây trồng vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đáp ứng được mong muốn của người nông dân, vừa tăng năng suất lại hợp túi tiền. MỤC ĐÍCH CỦA KHÓA LUẬN • Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Sơn Dương – Tuyên Quang • Thực trạng sản xuất mía đường của nhà máy • Phân tích thành phần phế thải nghành mía đường • Nghiên cứu quy trình làm phân hữu cơ vi sinh từ phế thải mía đường. • Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm phát sinh trong quy trình sản xuất mía đường của nhà máy. YÊU CẦU CỦA KHÓA LUẬN - Các số liệu, thông tin đưa ra phải đảm bảo độ tin cậy, chính xác, đầy đủ, chi tiết.
- Đánh giá phải chính xác. - Những giải pháp đề xuất phải có tính khả thi phù hợp với điều kiện của nhà máy 1. Ý NGHĨA CỦA KHÓA LUẬN • Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: • Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. • Vận dụng và phát huy được những kiến thức đã học tập và nghiên cứu.
Ý nghĩa thực tiễn: Xử lý phế thải mía đường giảm ô nhiễm môi trường và tạo nguồn phân bón cho cây mía. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC 2. Các khái niệm liên quan.
- Khái niệm về phân hữu cơ sinh học: là sản phẩm phân bón được tạo thành thông qua quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác nhau, có sự tác động của vi sinh vật hoặc các lớp sinh học được chuyển hóa thành mùn. Trong loại phân này có chứa đầy đủ thành phần là chất hữu cơ, có phối chế thêm các chế phẩm sinh học ( vi sinh, nấm đối kháng) bổ sung thêm thành phần vô cơ vi lượng ( NPK) và vi lượng. Tùy thuộc vào nhu cầu sản xuất mà có thể cân đối phối trộn các loại phân nguyên liệu sao cho cây trồng phát triển tốt nhất mà không phải bón bất kỳ các loại phân đơn nào. Phân phức hợp hữu cơ sinh học có thể dùng bón lót hoặc bón thúc.
Loại phân này có hàm lượng dinh dưỡng cao nên khi bón trộn đều với đất. Nếu sản phẩm phù hợp với từng loại cây trồng thì đây là loại phân hữu cơ tốt nhất. Như nhóm vi khuẩn cố định Nitơ tự do (Azotobacter), vi khuẩn hoặc nấm sợi phân giải phot phat khó tan (Bacillus polymixa, Bacillus megaterium, pseudomonas striata, Aspergillus awamori.), Xạ khuẩn Streptomyces. Rất nhiều loại phân hữu cơ vi sinh ( có nguồn gốc từ phế liệu nông nghiệp, chất thải các nhà máy chế biến nông lâm thủy sản) và các chế phẩm sinh học để sử dụng cho chúng đã được sản xuất tại Việt Nam.(3) n 5 - Khái niệm về môi trường Chúng ta sử dụng định nghĩa trong Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” (5) - Khái niệm về ô nhiễm môi trường Theo Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 : “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật” Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường.
Các tác nhân gây ô nhiềm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ. Tuy nhiên, môi trường chỉ được xem là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu (5) - Ô nhiễm môi trường không khí Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi). (8) - Ô nhiễm môi trường nước Hiến chương châu Âu về nước, định nghĩa: “ Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và n 6 gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí , cho động vật nuôi và các loài hoang dã ” Ngoài ra ta còn có định nghĩa sau: “ Sự ô nhiễm nước là sự thay đổi của thành phần và tính chất của nước ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của con ngưươì và sinh vật. Khi sự thay đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá một ngưỡng cho phép thì sự ô nhiễm của nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh ở người ” (8) - Ô nhiễm đất Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm.
Các văn bản pháp luật - Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006. - Chỉ thị 36 - CT/TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. - Nghị định số 202/2013/NĐ-CP của Chính Phủ về quản lý phân bón. - Nghị định số 163/2013/NĐ-CP ban hành ngày 12/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất, phân bón và vật liệu nổ công nghiệp.
- Nghị định số 191/2007/NĐ-CP ban hành ngày 31/12/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 113/2003/NĐ-CP ngày 07/10/2003 của chính phủ về việc quản lý sản xuất, kinh doanh phân bón. - Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/03/2010 n 7 - Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn - Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18/7/2011 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường - Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại 2. Các tiêu chuẩn Quốc Gia - Tiêu chuẩn ISO:9001:2008 - Tiêu chuẩn Việt Nam 5815 – 2001: Về phân hỗn hợp NPK – phương pháp thử do Bộ Khoa Học công Nghệ và Môi Trường ban hành.