Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành nông nghiệp Việt Nam trong quá trình phát triển bền vững đòi hỏi nguồn phân bón hữu cơ và phân hữu cơ vi sinh nhằm duy trì độ phì nhiêu của đất, ổn định năng suất cây trồng và hạn chế các tác động tiêu cực của việc lạm dụng phân bón hóa học. Tuy nhiên, nguồn chất thải chăn nuôi truyền thống ngày càng khan hiếm, không đáp ứng đủ nhu cầu canh tác quy mô lớn. Trong khi đó, các nhà máy chế biến nông sản, đặc biệt là ngành mía đường, phát sinh khối lượng phế phụ phẩm hữu cơ rất lớn như bã mía, bã bùn lọc, rỉ mật và tro lò. Nguồn phế thải này rất giàu chất hữu cơ, dễ chuyển hóa thành phân bón chất lượng cao nhưng nếu không được xử lý kịp thời sẽ gây ô nhiễm nghiêm trọng tới môi trường đất, nước, không khí và đời sống cư dân xung quanh.

Tại tỉnh Tuyên Quang, cây mía giữ vai trò chủ lực trong phát triển kinh tế nông nghiệp và nâng cao thu nhập cho nông dân huyện Sơn Dương. Hoạt động của Công ty Cổ phần Mía đường Sơn Dương đạt sản lượng chế biến hàng năm trên 500.000 tấn mía cây, với công suất ép 3.500 tấn/ngày và vùng nguyên liệu mở rộng trên 11.000 ha (số liệu năm 2013). Quy mô sản xuất lớn dẫn đến phát sinh lượng phế phẩm khổng lồ (riêng bã mía thải ra năm 2014 ước tính khoảng 10.000 tấn). Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp xử lý phế thải mía đường tại nhà máy đường Sơn Dương – Tuyên Quang" được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng phát sinh chất thải và làm rõ công nghệ tái chế phế phẩm mía đường thành phân hữu cơ vi sinh.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm 5 nội dung:

  1. Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
  2. Đánh giá thực trạng sản xuất và tình hình hoạt động của Công ty Cổ phần Mía đường Sơn Dương.
  3. Phân tích thành phần, khối lượng và đặc tính của các loại phế thải phát sinh trong dây chuyền sản xuất mía đường.
  4. Khảo sát và nghiên cứu quy trình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ nguồn phế phẩm mía đường tại phân xưởng của nhà máy.
  5. Đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường phát sinh từ hoạt động sản xuất và xử lý phế thải của nhà máy.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các nguồn phế thải phát sinh trong quá trình sản xuất mía đường tại Nhà máy đường Sơn Dương (gồm bã mía, bùn lọc, mật rỉ, tro lò hơi, nước thải và khí thải).
  • Phạm vi nghiên cứu: Nhà máy đường Sơn Dương thuộc Công ty Cổ phần Mía đường Sơn Dương, địa chỉ tại xã Hào Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
  • Thời gian thực hiện: Từ ngày 05/05/2014 đến ngày 05/08/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nội dung dựa trên các cơ sở khoa học về công nghệ sinh học môi trường, quản lý chất thải rắn công nghiệp và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành.

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Phân hữu cơ sinh học / vi sinh: Là sản phẩm phân bón được hình thành qua quá trình lên men vi sinh vật đối với các hợp chất hữu cơ, chuyển hóa thành mùn, có phối chế thêm các chế phẩm sinh học (vi sinh vật cố định đạm tự do Azotobacter; vi sinh vật và nấm sợi phân giải phốt phát khó tan như Bacillus polymyxa, Bacillus megaterium, Pseudomonas striata, Aspergillus awamori; xạ khuẩn Streptomyces) và bổ sung dinh dưỡng khoáng NPK, nguyên tố vi lượng.
  • Khái niệm môi trường và ô nhiễm môi trường: Áp dụng định nghĩa theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (Điều 6); khái niệm ô nhiễm môi trường nước theo Hiến chương châu Âu về nước; khái niệm ô nhiễm không khí và ô nhiễm đất.
  • Tổng quan nghiên cứu quốc tế và trong nước: Trích dẫn các công trình phân lập vi sinh vật chuyển hóa phốt pho của Gerretsen (1948), Mekina (1955), chế phẩm "Điền lực bảo" (Trung Quốc), chế phẩm photphobacterin (Liên Xô, 1970); sơ đồ cân bằng khối lượng phế liệu mía đường của Z. Muiier (1978) và sơ đồ chuỗi phụ phẩm của Paturan (1963); công nghệ sản xuất phân bón vi sinh Huđavil và Fitohoocmon ứng dụng tại 7 nhà máy đường ở Việt Nam.

Văn bản pháp lý và hệ thống tiêu chuẩn quốc gia

  • Văn bản pháp luật: Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (hiệu lực từ 01/07/2006); Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính trị; Nghị định số 202/2013/NĐ-CP về quản lý phân bón; Nghị định số 163/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phân bón, hóa chất; Nghị định số 191/2007/NĐ-CP; Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính lĩnh vực môi trường; Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn; Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT; Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT về quản lý chất thải nguy hại.
  • Tiêu chuẩn áp dụng: Tiêu chuẩn hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008; TCVN 5815:2001 (phương pháp thử phân hỗn hợp NPK); TCVN 8559:2010 (phương pháp xác định phốt pho hữu hiệu); TCVN 8560:2010 (phương pháp xác định kali hữu hiệu); TCVN 9294:2012 (xác định cacbon hữu cơ tổng số bằng phương pháp Walkley-Black); TCVN 9290:2012 (xác định chì tổng số bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử AAS); TCVN 9291:2012 (xác định cadimi tổng số bằng AAS); TCVN 4829:2008 / ISO 6579:2007 (phát hiện vi sinh vật Salmonella spp trên đĩa thạch).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Tác giả sử dụng 5 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Khoa học môi trường:

  1. Phương pháp điều tra, thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập dữ liệu khí tượng thủy văn, điều kiện kinh tế - xã hội, báo cáo môi trường từ các cơ quan quản lý huyện Sơn Dương, tài liệu khoa học, báo chí và internet.
  2. Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Trao đổi, phỏng vấn cán bộ kỹ thuật trực tiếp phụ trách xưởng sản xuất phân vi sinh của công ty và giảng viên chuyên môn tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
  3. Phương pháp phân tích, tổng hợp và đánh giá: Thống kê, xử lý chuỗi số liệu hoạt động sản xuất, phân tích các chỉ tiêu ô nhiễm và đánh giá tính hợp lý của công nghệ sản xuất phân bón vi sinh.
  4. Phương pháp kế thừa: Tiếp thu kết quả từ các đề tài, báo cáo kiểm toán môi trường, số liệu phân tích mẫu phân bón và nước thải sẵn có tại nhà máy.
  5. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Quan sát trực tiếp toàn bộ dây chuyền sản xuất đường, dây chuyền xưởng phân bón, các vị trí xả thải, ghi chép và chụp ảnh hiện trường.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh công nghiệp hóa gắn liền với bảo vệ môi trường nông nghiệp. Xác định rõ mục đích nghiên cứu, các yêu cầu khoa học đối với dữ liệu thực nghiệm và ý nghĩa thực tiễn trong việc xử lý phế phẩm mía đường thành nguồn phân bón cung cấp ngược lại cho vùng nguyên liệu mía.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về phân bón hữu cơ vi sinh, phân loại vi sinh vật hữu ích và các tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng phân bón tại Việt Nam. Đánh giá chi tiết cơ sở thực tiễn về chuỗi phụ phẩm ngành mía đường.

Thành phần cây mía khi thu hoạch Tỷ lệ khối lượng (%) Hướng sử dụng chính
Thân cây thu hoạch 60% – 65% Ép lấy nước sản xuất đường
Ngọn và lá mía 35% – 40% Thức ăn gia súc tươi hoặc sơ chế
Đường saccarozo thành phẩm 9% – 10% Sản phẩm chính tiêu thụ thương mại
Bã mía sau ép 25% – 30% Làm chất đốt lò hơi, ván ép, thức ăn chăn nuôi, phân bón
Bùn lọc và váng bọt 1% – 4% Phối trộn sản xuất phân hữu cơ vi sinh
Mật rỉ 3% – 4% Sản xuất cồn, mì chính, men thức ăn gia súc, phối trộn phân bón

Thành phần hóa học của bã mía sau ép đường (theo Gohl):

  • Tính theo vật chất khô (%): Protein thô 4,0%; Chất béo 1,3%; Chất xơ 37,0%; Tro 3,9%; Nitơ tự do chiết xuất được 53,8%.
  • Tính theo khối lượng tươi (%): Độ ẩm 6,9%; Protein thô 3,7%; Chất béo 1,2%; Chất xơ 34,5%; Tro 3,6%; Nitơ tự do chiết xuất được 50,1%.

Khóa luận phân tích việc sử dụng bã mía làm nhiên liệu đốt lò hơi (nhiệt trị xấp xỉ 2.340 kcal/kg). Một nhà máy công suất ép 4.500 tấn mía/ngày khi đốt lò chỉ tiêu thụ hết 80% bã mía, lượng bã dư thừa khoảng 56 tấn/ngày, tạo ra nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất phân hữu cơ.

Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định rõ ràng đối tượng là phế thải mía đường tại Nhà máy đường Sơn Dương, địa bàn xã Hào Phú trong khung thời gian từ 05/05/2014 đến 05/08/2014. Thiết lập quy trình 5 bước thu thập, xử lý thông tin thứ cấp, khảo sát thực địa và phân tích dữ liệu kỹ thuật.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Khóa luận công bố các kết quả nghiên cứu toàn diện qua các nội dung chính:

1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện Sơn Dương

  • Tự nhiên: Huyện miền núi phía nam tỉnh Tuyên Quang, diện tích 788 km², dân số 179.000 người (năm 2009). Địa hình chia làm 2 dạng chính: đồi núi thấp (cao 150 – 200 m) và đồng bằng phù sa sông Phó Đáy (cao 50 – 70 m). Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 22,5°C, độ ẩm trung bình 85%, lượng mưa bình quân trên 1.500 mm/năm. Đất đỏ vàng phát triển trên đá sét và biến chất (Fs) chiếm 77,22% diện tích (1.608,5 ha), thuận lợi cho cây công nghiệp.
  • Kinh tế - xã hội: Nông nghiệp là chủ đạo; công nghiệp phát triển với gần 50 doanh nghiệp (gồm Nhà máy đường Sơn Dương, Giấy An Hòa, Chè Sơn Dương). Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 39,8%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,84%.

2. Hiện trạng sản xuất của Công ty Cổ phần Mía đường Sơn Dương

Công ty thành lập trong chương trình 1 triệu tấn đường của Chính phủ trên cơ sở Nông trường 26/3 Tuyên Quang, vốn điều lệ 32 tỷ VNĐ, vốn chủ sở hữu 161,898 tỷ VNĐ. Cơ cấu tổ chức gồm Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc, 5 phòng ban, 4 phân xưởng (Cơ điện, Động lực, Xưởng đường, Xưởng sản xuất phân bón vi sinh) và 1 công ty con (Công ty TNHH MTV Phú Sơn).

Giai đoạn vụ sản xuất Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn) Mức đáp ứng công suất thiết kế
Vụ 1996 – 1997 800 16,0 12.500 18,25%
Vụ 2011 – 2012 - - 376.922 98,80%
Vụ 2012 – 2013 9.257 54,8 507.776 Vượt công suất
Vụ 2013 – 2014 10.065 52,0 523.380 Vùng nguyên liệu 32 xã

Vùng nguyên liệu của công ty bao phủ 28 xã huyện Sơn Dương và các xã thuộc huyện Đoan Hùng (Phú Thọ), Lập Thạch (Vĩnh Phúc). Mục tiêu giai đoạn 2014 – 2015 là nâng diện tích lên trên 12.000 ha, năng suất >60 tấn/ha, độ đường CCS >11%, sản lượng 700.000 tấn mía/vụ.

3. Dây chuyền công nghệ sản xuất đường và các nguồn thải phát sinh

Quy trình công nghệ gồm 5 công đoạn:

  1. Ép mía: Dùng các bộ nghiền 3 trục, bã mía tách ra dùng làm chất đốt lò hơi.
  2. Tinh chế: Xử lý bằng khí SO2, sữa vôi, gia nhiệt đưa pH đạt 8,0 – 8,5, lọc chân không thu bùn lọc.
  3. Chưng cất: Cô đặc chân không nhiều tầng nâng nồng độ saccarozo lên 55% – 65%.
  4. Kết tinh đường: Nấu đường tạo hỗn hợp massecuite.
  5. Phân tách: Ly tâm giỏ tách đường thương phẩm (loại A, B đóng gói xuất xưởng; loại C quay vòng tái kết tinh; mật rỉ đưa đi sản xuất cồn hoặc phối trộn phân bón).

Hiện trạng phát sinh ô nhiễm môi trường:

  • Nước thải: Lượng nước sử dụng gấp 12 – 15 lần khối lượng mía nguyên liệu, đặc trưng bởi hàm lượng BOD5 dao động rất cao: nước bùn lọc có BOD5 từ 2.900 đến 11.000 mg/l (nước thải đường thô) và 730 mg/l (đường tinh chế); nước rửa xe chở mía lên tới 15.000 mg/l; nước thải than từ 750 đến 1.200 mg/l; nước ngưng tụ từ 30 đến 40 mg/l.
  • Khí thải, bụi: Khói phát sinh từ lò hơi đốt bã mía/than chứa CO2, bụi tro, khí than; rò rỉ cục bộ SO2 từ lò xông lưu huỳnh; bụi đường phát tán tại khu vực sàng và đóng bao.
  • Mùi hôi và chất thải rắn: Bã mía (chiếm 26,8% – 32% lượng ép, độ ẩm ~50%), bùn lọc (chiếm 3,82% – 5,07% lượng mía, độ ẩm 75% – 77%), rỉ mật (~5% lượng ép), tro lò hơi (chiếm 1,2% lượng bùn mía, chứa 71% – 72% SiO2 cùng Fe2O3, Al2O3, CaO...). Bùn lọc và bã mía đổ đống gây phân hủy kỵ khí bốc mùi hôi thối, bị người dân xã Hào Phú phản ánh gay gắt.

4. Giải pháp công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh

Xưởng sản xuất phân bón vi sinh của nhà máy tiếp nhận lượng bã mía dư thừa (năm 2014 xử lý khoảng 10.000 tấn bã), bùn lọc, tro lò và mật rỉ, bổ sung thêm khoáng NPK, vi lượng và chế phẩm sinh học (vi khuẩn cố định đạm, phân giải lân, nấm đối kháng, xạ khuẩn). Quá trình ủ lên men háo khí giúp rút ngắn thời gian phân hủy xenluloza, diệt trừ mầm bệnh và tạo sản phẩm phân bón hữu cơ khoáng hoàn chỉnh phục vụ lại chính vùng trồng mía.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ các kết quả đạt được về khảo sát thực trạng, thành phần phế thải và đề xuất kiến nghị hoàn thiện quy trình công nghệ xử lý môi trường tại công ty.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính kèm số liệu thực nghiệm trong văn bản

  • Đã hệ thống hóa toàn diện cơ cấu các dòng chất thải phát sinh tại Nhà máy đường Sơn Dương: Bã mía chiếm 26,8% – 32%, bùn lọc chiếm 3,82% – 5,07%, mật rỉ chiếm ~5% khối lượng mía ép tươi; tro lò chiếm 1,2% lượng bùn mía với hàm lượng SiO2 chiếm 71% – 72%.
  • Làm rõ nguyên nhân ô nhiễm nước thải có tải lượng hữu cơ cực lớn (BOD5 nước bùn lọc lên đến 11.000 mg/l, nước rửa xe 15.000 mg/l, tổng lượng nước thải gấp 12 – 15 lần khối lượng nguyên liệu).
  • Khảo sát thực tế giải pháp của nhà máy trong năm 2014: Tận thu thành công khoảng 10.000 tấn bã mía kết hợp toàn bộ bùn lọc, tro lò và mật rỉ tại chỗ để sản xuất phân hữu cơ vi sinh theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008, giảm thiểu áp lực xả thải trực tiếp ra môi trường xung quanh.

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất

  • Duy trì và mở rộng công suất xưởng phân bón hữu cơ vi sinh để thu gom triệt để 100% lượng bùn lọc và bã mía dư thừa sau khi đốt lò hơi, không để tồn đọng ngoài bãi lộ thiên gây mùi hôi.
  • Tăng cường các biện pháp kiểm soát khí thải: Thường xuyên bảo dưỡng hệ thống lò hơi đốt bã mía và lò xông lưu huỳnh, lắp đặt hệ thống dập bụi, lọc ướt để ngăn chặn bụi tro và khí SO2 phát tán vào khu dân cư xã Hào Phú.
  • Tách riêng và xử lý cục bộ các dòng nước thải có nồng độ ô nhiễm cao (nước bùn lọc, nước rửa xe, nước ngưng tụ nhiễm dầu mỡ và đường) trước khi xả ra hệ thống xử lý chung.
  • Khuyến cáo nông dân vùng nguyên liệu bón phân hữu cơ vi sinh kết hợp vùi thân lá sau thu hoạch để giữ ẩm, hạn chế rửa trôi và cải tạo đất bạc màu.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước

Khóa luận đã mô tả chi tiết bài toán cân bằng vật chất và năng lượng thực tế tại một nhà máy đường cụ thể ở vùng miền núi phía Bắc (nhà máy tự cung cấp năng lượng từ 80% bã mía đốt lò hơi và tái chế 20% bã thừa cùng bùn lọc làm phân vi sinh). Nghiên cứu gắn kết chuỗi giá trị khép kín giữa nhà máy chế biến và vùng nguyên liệu 10.065 ha thông qua mô hình liên kết "4 nhà" (Nhà khoa học - Nhà nước - Nhà nông - Doanh nghiệp).


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thời gian thực tập và nghiên cứu thực địa bị giới hạn trong 3 tháng (từ 05/05/2014 đến 05/08/2014) vào giai đoạn cuối vụ chế biến nên một số chỉ tiêu phân tích thành phần phân bón và chất lượng nước thải kế thừa chủ yếu từ các đợt quan trắc trước của nhà máy; chưa thực hiện được các thí nghiệm đồng ruộng dài ngày để so sánh đối chứng hiệu quả bón phân vi sinh trên từng loại đất khác nhau tại huyện Sơn Dương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục hoàn thiện công thức phối trộn vi sinh vật đặc hiệu cho từng chất đất (đất dốc tụ, đất đỏ vàng Fs), tối ưu hóa thời gian ủ compost quy mô công nghiệp và nghiên cứu hệ thống thu hồi khí biogas/năng lượng từ nước thải có tải lượng BOD cao của nhà máy.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Nông hóa - Thổ nhưỡng, Công nghệ Sinh học và Kỹ thuật Môi trường.
  • Nội dung giá trị nhất: Dữ liệu thực tế về hệ số phát thải các nguồn phụ phẩm ngành mía đường (bã mía, bùn lọc, mật rỉ, tro lò, BOD5 nước thải); quy trình công nghệ sản xuất đường sunfit hóa kèm điểm phát sinh dòng thải; giải pháp công nghệ phối trộn và ủ phân hữu cơ vi sinh từ phế phẩm công nghiệp chế biến nông sản.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao nhà máy đường Sơn Dương lựa chọn phương án sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ bã mía thay vì làm thức ăn gia súc hay ván ép?
Bã mía sau ép có hàm lượng chất xơ cao (34,5% – 37%), nếu dùng làm thức ăn gia súc đòi hỏi công nghệ ủ hóa học phức tạp, chi phí đầu tư lớn và không giải quyết được lượng bã bùn lọc thải ra. Việc sản xuất phân vi sinh giúp kết hợp đồng thời bã mía, bùn lọc, tro lò và mật rỉ, tạo ra sản phẩm trả lại trực tiếp cho hơn 10.000 ha vùng đất trồng mía đang bị thoái hóa, giảm chi phí phân hóa học cho nông dân.

2. Tỷ lệ phát sinh các loại phế phụ phẩm chính trong quá trình ép mía tại nhà máy là bao nhiêu?
Theo số liệu khóa luận, từ 100% mía cây đưa vào chế biến sẽ thu được 9% – 10% đường saccarozo thương phẩm. Các phụ phẩm phát sinh gồm: Bã mía chiếm 25% – 30% (hoặc 26,8% – 32% lượng mía ép), bùn lọc chiếm 1% – 4% (hoặc 3,82% – 5,07%), mật rỉ chiếm 3% – 5%, và tro lò hơi chiếm khoảng 1,2% lượng bùn mía.

3. Đặc trưng ô nhiễm của nước thải sản xuất mía đường tại nhà máy thể hiện qua chỉ số nào?
Nước thải mía đường phát sinh khối lượng lớn (gấp 12 – 15 lần lượng mía nguyên liệu) và có chỉ số BOD5 rất cao: Nước bùn lọc từ 2.900 đến 11.000 mg/l (ở dây chuyền đường thô) và 730 mg/l (đường tinh chế); nước rửa xe chở mía đạt mức 15.000 mg/l; nước thải than từ 750 đến 1.200 mg/l.

4. Dây chuyền sản xuất đường tại Công ty Cổ phần Mía đường Sơn Dương gồm các công đoạn nào?
Dây chuyền gồm 5 bước liên hoàn: (1) Ép dập lấy nước mía bằng hệ thống trục nghiền; (2) Tinh chế nước mía bằng SO2, vôi, gia nhiệt và lọc chân không tách bùn; (3) Chưng cất bốc hơi chân không nhiều tầng đạt nồng độ 55% – 65%; (4) Nấu và kết tinh đường tạo hỗn hợp massecuite; (5) Ly tâm phân tách thu đường thành phẩm loại A, B và tách mật rỉ.

5. Khóa luận sử dụng các tiêu chuẩn quốc gia nào để kiểm tra chất lượng phân bón hữu cơ vi sinh?
Tác giả viện dẫn các tiêu chuẩn: TCVN 5815:2001 (phương pháp thử NPK), TCVN 8559:2010 (xác định phốt pho hữu hiệu), TCVN 8560:2010 (xác định kali hữu hiệu), TCVN 9294:2012 (xác định cacbon hữu cơ bằng phương pháp Walkley-Black), TCVN 9290:2012 và TCVN 9291:2012 (xác định kim loại nặng Pb, Cd bằng phương pháp AAS), TCVN 4829:2008 / ISO 6579:2007 (phát hiện vi sinh vật Salmonella spp).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hằng đã phản ánh trung thực bức tranh thực trạng sản xuất và các vấn đề ô nhiễm môi trường phát sinh tại Công ty Cổ phần Mía đường Sơn Dương trong niên vụ 2013 – 2014. Nghiên cứu đã làm rõ đặc tính lý hóa của các dòng chất thải rắn, khí thải và nước thải có tải lượng hữu cơ cao trong dây chuyền chế biến đường sunfit hóa. Việc tận dụng bã mía, bùn lọc, tro lò và mật rỉ để sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh được khẳng định là giải pháp công nghệ môi trường phù hợp, vừa xử lý triệt để chất thải tại nguồn, vừa phục vụ mục tiêu tái tạo độ phì nhiêu cho đất vùng nguyên liệu mía bền vững.