Chương 1 TỔNG QUAN 1. Dầu biến thế Dầu biến thế là sản phẩm lỏng thu được từ dầu mỏ. Dầu biến thế gồm hỗn hợp các hidrocacbon với thành phần bao gồm: parafin, naphthen, các hợp chất thơm, các hợp chất naphthen thơm và các hợp chất PCBs. Ngoài ra, trong dầu biến thế còn chứa một lượng nhỏ các dẫn xuất của hidrocacbon có chứa các nguyên tố nitơ, lưu huỳnh, oxy trong phân tử.
Để chống lại quá trình tạo bám và oxy hóa, dầu biến thế còn được cho thêm một lượng khoảng 0,3% chất 2,6-ditert butylparacresol [54]. Ngày nay, người ta thay dầu biến thế có chứa các yếu tố độc hại như PCBs bằng loại dầu có chứa các hợp chất hidrocacbon đã được flo hóa hoặc các hợp chất hidrocacbon silicon. Có thể nêu tóm tắt những thành phần chính của dầu biến thế bao gồm các paraphin, olefin, naphthen, chất thơm, các hợp chất dimetyl silicon và etylen glycol, các hợp chất PCBs, các chất chống oxy hóa. Tính chất hoá lý của một số loại dầu biến thế được nêu trong Bảng 1.1: Tính chất hóa lý của một số loại dầu biến thế Đặc trưng Dầu 1 Dầu 2 Dầu 3 Tỷ trọng ở 20oC, g/ml 0,9227 0,9555 0,9540 Chỉ số khúc xạ, 20oC 1,5160 1,5315 1,5235 Chỉ số độ nhớt - 47 - 34 - 29 Độ tán sắc đặc trưng 138 149 142 Trọng lượng phân tử 298 308 308 Tổng lượng sunfua, % 1,3 5,0 6,5 Lượng sunfua, sunfit, % 0 3,6 5,8 Công thức tổng HC, CnH2n-x CnH2n-8,5 CnH2n-9 CnH2n-7 n 5 Các hidrocacbon trong dầu biến thế có công thức chung là CnH2n-x, trong đó x có thể là các giá trị 7, 8,5 và 9; trọng lượng phân tử dao động từ 298 - 308.
Các hợp chất PCBs trong dầu biến thế thường dùng một trong các sản phẩm thương mại như: 1242; 1248 hoặc 1254, trong đó nồng độ PCBs có thể lên tới hàng nghìn mg/1kg dầu. Cấu tạo của PCBs Policlobiphenyl là một hỗn hợp gồm 209 hợp chất cơ clo tạo thành các nhóm đồng đẳng và đồng phân khác nhau, trong phân tử của mỗi chất có từ một đến mười nguyên tử clo đính vào vòng biphenyl, hợp chất được cấu tạo nên từ hai vòng benzen liên kết với nhau. Công thức tổng quát của PCBs là C12H10-xClx, với x>1.1: Công thức cấu tạo tổng quát của PCBs PCBs là một hợp chất nhân tạo, được điều chế từ phản ứng clo hóa biphenyl với xúc tác FeCl3 hoặc hình thành trong quá trình xử lý chất thải. PCBs đã từng được sử dụng trong các sản phẩm như thiết bị điện, chất phủ bề mặt, mực, keo dán, các chất làm chậm bốc cháy và sơn.
Sự khác nhau về số lượng clo, cũng như vị trí của nhóm thế, tạo ra 209 chất khác nhau. Năm 1980, các chất trong họ PCBs đã được Ballschmiter và Zell sắp xếp, phân loại theo số thứ tự từ 1 đến 209, theo quy tắc IUPAC. n 6 Do PCBs được cấu tạo từ 2 vòng benzen liên kết với nhau, cấu dạng tồn tại có năng lượng thấp nhất của PCBs là dạng hai vòng benzen nằm trên cùng một mặt phẳng, và tạo ra một hệ hai vòng liên hợp. Hiệu ứng liên hợp của các nguyên tử clo trong PCBs thường làm cho hệ hai vòng liên hợp này bền vững hơn.
Tuy nhiên sự có mặt của nguyên tử clo ở các vị trí octo có thể gây ra hiệu ứng không gian làm cho hệ liên hợp này kém bền vững, khiến cho cấu dạng tồn tại chủ yếu của PCBs trong trường hợp này có thể là dạng hai vòng benzen nằm vuông góc với nhau. Nhiều hỗn hợp của PCBs bán trên thị trường có tên thương mại khác nhau, ở Mỹ là Arochlor, ở Nhật là Kanechlor. Các Công ty hóa chất đặt tên gọi PCBs khác nhau dựa trên tỉ lệ số nhóm chất chứa clo. Công ty hóa chất Monsanto dùng 4 chữ số để đặt tên cho hỗn hợp PCBs [12].
Theo đó, hai số đầu “12” chỉ vòng quay biphenyl và hai số sau chỉ phần trăm khối lượng của clo trong phân tử (ví dụ Arochlor 1260 có nghĩa là PCBs có chứa 60% khối lượng là clo). Một số công ty khác dùng số nguyên tử clo trung bình trong hỗn hợp để đặt tên (ví dụ Chlophen A60, Phenochlor DP6 và Kanechlor 600 có nghĩa là có trung bình 6 nguyên tử clo trên một phân tử, …) [12]. Tính chất hóa lý của PCBs PCBs là hợp chất không mùi, không vị, màu sắc biến đổi từ không màu đến màu vàng nhạt và là một chất lỏng nhớt. Ở trạng thái nguyên chất, hầu hết PCBs tồn tại ở dạng tinh thể.
PCBs tan ít trong nước (0,0027 – 0,42 ng/l), có áp suất hơi thấp ở nhiệt độ thường, tuy nhiên tan nhiều trong hầu hết các dung môi hữu cơ. Nó có điện trở lớn, hằng số điện môi cao. PCBs có tính bền nhiệt cao, bền vững với cả các axit, bazơ, cũng như bền khi ở các điều kiện oxi hóa và thủy phân trong sản xuất công nghiệp. Do có tính bền nhiệt rất cao nên PCBs được sử dụng trong công nghiệp hóa chất, điện và cơ khí.
n 7 Trong đất, PCBs bị phân hủy thành nhiều sản phẩm khác nhau, chủ yếu là sản phẩm đề clo hóa và hidroxyl hóa. Ở sông hồ, PCBs dính vào các lớp trầm tích nơi mà chúng có thể bị chôn lấp trong một thời gian dài, sau đó chúng được tách ra và đi vào trong môi trường nước và không khí. Trong nước, sự phân huỷ PCBs chậm hơn và có thể xảy ra dưới ảnh hưởng của ánh sáng mặt trời và các vi sinh vật. Những sinh vật này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phân huỷ PCBs trong đất và trong các lớp trầm tích.
PCBs trong không khí có thể đi vào môi trường đất thông qua mưa, gió và tuyết rơi hoặc tiếp tục tồn tại trong môi trường không khí dưới dạng hạt. Trong không khí PCBs bị phân huỷ bởi tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời và phải mất khoảng vài ngày đến vài tháng mới phân huỷ được một nửa số lượng PCBs ban đầu. PCBs trong môi trường có thể bị oxy hóa tạo thành các hợp chất vô cùng độc hại như dioxin hoặc các hợp chất furan. Ngoài ra, PCBs còn có khả năng tích lũy lâu dài trong cơ thể sinh vật.
PCBs đi vào cơ thể thông qua chuỗi thức ăn. PCBs được tìm thấy trong các mô mỡ của động vật sống trong nước và trên mặt đất, đặc biệt là những động vật ở đầu của các chuỗi thức ăn. Chính vì vậy, việc ngăn ngừa, kiểm soát và xử lý PCBs từ nguồn, không để PCBs phát thải ra môi trường là mục tiêu nghiên cứu của luận văn. Độc tính của PCBs Các PCBs có mức độ độc tính khác nhau, PCBs thể hiện độc tính mạnh nhất khi không có nguyên tử clo (Cl) ở vị trí octo, hai hoặc ba nguyên tử Cl ở vị trí meta và para.
Khi có thêm một nguyên tử Cl ở vị trí octo, ảnh hưởng độc của PCBs giảm rõ rệt. Trong một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng độc tính của các di-octo PCBs giảm khoảng 4-6 lần so với trước khi thay thế Cl vào vị trí octo. n 8 Mặc dù PCBs không thể hiện tính độc ngay tức khắc, nhưng khi bị nhiễm ở liều lượng 0,2 0,5g PCBs/kg, bệnh nhân có thể bị xám da, hỏng mắt, nổi mụn, v/v. WHO đã chỉ ra 5/14 chất trong hỗn hợp PCBs gồm PCB81, PCB77, PCB126, PCB169, PCB123 có độc tính cao nhất.
Hệ số độ độc tương đương so với dioxin của 5 PCBs nói trên được chỉ ra trong Bảng 1.2: Độ độc tương đương của PCBs điển hình so với dioxin WHO-TEF WHO/IPCS- Số thứ tự theo Người/động vật TEF Chất IUPAC (1997) (1993) 3,4,4,5-TCB 81 0,0001 3,3,4,4’-TCB 77 0,0001 0,0005 2’,3,4,4’,5-PCB 123 0,0001 0,0001 3,3,4,4’,5-PCB 126 0,1 0,1 3,3’,4,4’,5,5’- HCB 169 0,01 0,01 Rất khó xác định được việc nhiễm PCBs tới mức độ nào thì ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, vì những người khác nhau thì bị nhiễm với số lượng và các chất PCBs khác nhau và mức độ gây độc của PCBs đối với một số người có thể tăng lên nếu họ bị nhiễm cùng lúc với các chất độc khác. Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa nhiễm độc PCBs và nguy cơ ung thư hệ tiêu hoá, gan và da. Hơn nữa, hàm lượng PCBs trong máu cao có thể liên quan tới ung thư hệ bạch huyết. Nhiễm độc PCBs có thể ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của người, đặc biệt nó làm giảm khả năng sinh sản ở nữ và làm giảm số lượng tinh trùng của nam giới.
Nếu nhiễm PCBs diễn ra trong thời kỳ mang thai và cho con bú có thể dẫn tới sự lớn lên và phát triển chậm n 9 của bào thai và trẻ sơ sinh, cũng như làm giảm khả năng miễn dịch của trẻ. Sự phơi nhiễm chất này cũng có thể liên quan tới những ảnh hưởng về thần kinh (như tình trạng tê liệt và đau đầu), khả năng nhiễm bệnh thường xuyên hơn, sự thay đổi màu của da, đặc biệt là các chứng phát ban và ngứa [54]. Một số PCBs có độc tính cao đã được WHO nghiên cứu, phân loại mức độ độc. Theo tài liệu của WHO và ý kiến của nhiều chuyên gia đã chỉ ra 14 PCBs có độc tính cao nhất, gồm: PCB77, PCB81, PCB105, PCB114, PCB118, PCB123, PCB126, PCB156, PCB157, PCB167, PCB169, PCB170, PCB180, PCB189.
Tất cả 14 chất nêu trên đều có đặc tính cấu trúc tương tự PCDD và PCDF, khó phân hủy, xâm nhập và tích tụ theo chuỗi thức ăn, và đều gây hậu quả giống dioxin [37, 54]. Quá trình xâm nhập PCBs vào môi trường PCBs xâm nhập môi trường bằng nhiều con đường như thải trực tiếp dầu biến thế, tụ điện, chất lưu thủy lực sau sử dụng ra môi trường. Chúng có thể đi vào môi trường do sự cố tràn và rò rỉ dầu có chứa PCBs từ các thiết bị điện như máy biến thế, tụ điện hoặc thiết bị công nghiệp như máy nâng hạ thủy lực, thải bỏ sản phẩm có chứa PCBs như thiết bị điện tử, đồ dùng có nhựa, sơn,. ở khu dân cư hoặc bãi chôn lấp thông thường, đốt rác có chứa PCBs ở khu dân cư, lưu trữ và tiêu hủy chất thải PCBs bất hợp pháp hoặc không đúng quy cách, bãi thải nguy hại có chứa PCBs được vận hành không đúng quy định, lò đốt chất thải công nghiệp vận hành không đúng quy định.
Khi được thải vào môi trường, PCBs có thể di chuyển với một khoảng cách dài và tồn tại trong môi trường theo chuỗi thức ăn. PCBs được tìm thấy trong đất, nước, trầm tích và bay hơi một phần nhỏ vào không khí. Thông qua chu trình tuần hoàn không khí và sự luân chuyển của nước, PCBs có thể di chuyển rất xa nơi phát thải.