Luận văn thạc sĩ về hoạt tính xúc tác của vật liệu composite CoFe2O4 trong kỹ thuật hóa học

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích kỹ thuật hóa học tổng hợp và đánh giá hoạt tính xúc tác của vật liệu composite cofe2o4, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Đại học Bách Khoa - ĐHQG TPHCM

Chuyên ngành

Kỹ thuật Hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2023

96
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vật liệu composite CoFe2O4

Vật liệu composite CoFe2O4 là một trong những loại vật liệu được nghiên cứu nhiều trong lĩnh vực kỹ thuật hóa học nhờ vào tính năng hoạt tính xúc tác cao. Cấu trúc của composite này cho phép cải thiện đáng kể khả năng hoạt hóa peroxymonosulfate (PMS), một tác nhân oxy hóa mạnh, trong việc phân hủy các chất ô nhiễm hữu cơ. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc kết hợp CoFe2O4 với các vật liệu khác như ZnO không chỉ nâng cao tính ổn định mà còn tăng cường hiệu quả xúc tác. Kết quả từ các thí nghiệm cho thấy rằng composite CoFe2O4/ZnO có khả năng phân hủy bisphenol-A (BPA) hiệu quả hơn so với các vật liệu đơn lẻ. Điều này mở ra hướng đi mới trong việc thiết kế các hệ xúc tác cho ứng dụng trong xử lý nước thải, giúp loại bỏ các chất ô nhiễm khó phân hủy.

II. Phương pháp tổng hợp và đặc tính vật liệu

Quá trình tổng hợp vật liệu composite CoFe2O4/ZnO được thực hiện thông qua phương pháp thủy nhiệt, cho phép kiểm soát kích thước và hình thái của vật liệu. Các phương pháp phân tích như nhiễu xạ tia X (XRD) và quang phổ Raman đã được sử dụng để xác định cấu trúc và tính chất của vật liệu. Kết quả cho thấy rằng composite này có cấu trúc tinh thể ổn định và diện tích bề mặt lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hoạt tính xúc tác. Sự hiện diện của các ion Zn trong cấu trúc composite không chỉ cải thiện tính dẫn điện mà còn làm tăng khả năng hấp phụ các chất ô nhiễm, từ đó nâng cao hiệu suất phân hủy BPA trong môi trường nước. Việc tối ưu hóa tỷ lệ giữa CoFe2O4ZnO cũng đã được thực hiện để đạt được hoạt tính xúc tác tối ưu.

III. Đánh giá hoạt tính xúc tác và cơ chế phân hủy

Hoạt tính xúc tác của hệ composite CoFe2O4/ZnO trong việc kích hoạt PMS đã được đánh giá thông qua các thí nghiệm phân hủy BPA. Kết quả cho thấy hệ xúc tác CFZ 1:1 có khả năng loại bỏ đến 95% BPA chỉ trong vòng 20 phút. Các gốc tự do như singlet oxygen (1O2)sulfate radical anion (SO4•-) được xác định là những tác nhân chính tham gia vào quá trình phân hủy. Cơ chế hoạt động của hệ xúc tác này không chỉ dựa trên các phản ứng gốc tự do mà còn bao gồm các phản ứng phi gốc tự do, cho thấy tính linh hoạt và hiệu quả cao trong việc xử lý các chất ô nhiễm khác nhau. Điều này mở rộng khả năng ứng dụng của vật liệu composite trong xử lý nước thải và bảo vệ môi trường.

IV. Ứng dụng thực tiễn và tiềm năng phát triển

Nghiên cứu về hoạt tính xúc tác của composite CoFe2O4 trong kỹ thuật hóa học không chỉ mang lại những hiểu biết mới về cấu trúc và chức năng của vật liệu mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Hệ xúc tác CFZ 1:1 cho thấy tiềm năng lớn trong việc xử lý các chất ô nhiễm hữu cơ trong nước, đặc biệt là trong các điều kiện môi trường khác nhau như pH và nồng độ ion vô cơ. Việc phát triển các hệ xúc tác mới như CoFe2O4/ZnO có thể giúp giải quyết vấn đề ô nhiễm nước, từ đó góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực vật liệu nano và xúc tác, thúc đẩy sự phát triển bền vững trong ngành công nghiệp hóa học.

10/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN 1. Vật liệu spinel ferrite 1. Cấu trúc vật liệu spinel ferrite Ferrite được phân thành bốn loại chính: lục giác (MFe12O19), garnet (M3Fe5O12), trực giao (MFeO3), spinel (AB2X4) với nguyên tố M thường gặp là Ba, Sr, Pb hoặc các nguyên tố đất hiếm, trong khi A và B là các cation kim loại được định vị tại vị trí tứ diện và bát diện, X là anion -2 thuộc nhóm chalcogen (O, S, Se hoặc Te). Các ferrite của spinel có Fe3+ trong cấu trúc tinh thể nên công thức chung của ferrite spinel là AFe2O4 trong đó A đại diện cho ion hóa trị hai, thường gặp như Fe2+, Mg2+, Co2+, Ni2+, Zn2+, Mn2+.

Do sự khác biệt ở cả bản chất hóa học và trạng thái điện tích cũng như năng lượng ổn định, các cation có thể được sắp xếp theo hai vị trí tinh thể khác nhau (tứ diện và bát diện), xung quanh là các cation và ion O2‒. Cụ thể hơn, một đơn vị tinh thể AFe2O4 gồm 32 nguyên tử oxy được sắp xếp chặt chẽ với 64 vị trí tứ diện hóa trị hai và 32 vị trí bát diện hóa trị ba. Để duy trì trạng thái cân bằng điện giữa các anion với nhau trong cấu trúc, A2+ và Fe3+ thường chiếm lần lượt 8 vị trí tứ diện và 16 vị trí bát diện. Dựa vào cấu trúc tự nhiên của spinel, có thể chia SFN thành 3 nhóm: spinel thuận (normal), spinel đảo (inverse), và spinel hỗn hợp (mixed) (Hình 1.

Vị trí cation tại hốc mạng tứ diện hay bát diện phụ thuộc vào điện tích tĩnh điện mà cation đóng góp vào năng lượng mạng tinh thể, bán kính cation, điện tích cation và hiệu ứng trường tinh thể. Trong cấu trúc ferrite spinel thuận, các cation A2+ nằm ở vị trí tứ diện, trong khi các cation Fe3+ nằm ở hốc bát diện, ví dụ như ZnFe2O4, CoAl2O4, MgAl2O4 và Mn3O4. Đối với cấu trúc spinel đảo, các cation Fe 3+ được phân bố đều giữa các vị trí tứ diện và bát diện, các cation A2+ chỉ chiếm các vị trí bát diện, ví dụ trong NiFe2O4, CoFe 2O4, Fe3O4. Đối với spinel hỗn hợp, A(II) và Fe(III) chiếm ngẫu nhiên tại các vị trí tứ diện và bát diện, ví dụ như MnFe2O4 có thể được ký hiệu là Mn0.

Cấu trúc đại diện của (a) spinel thuận (MgAl2O4), (b) spinel đảo (NiFe2O4), (c) spinel hỗn hợp (CuAl 2O4) [1] Ứng dụng sớm nhất của ferrite spinel là nam châm Fe 3O4 cách đây 3000 năm, nhưng đã không còn được nghiên cứu thêm trong thời gian dài. Kể từ đầu những năm 1990, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ nano, các ferrite spinel kích thước nanomet đã được nghiên cứu phát triển lại một cách có hệ thống hơn. Ferrite spinel là một trong những vật liệu nano từ tính đã thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong vài thập kỷ qua do các tính năng độc đáo của chúng như khả năng hấp phụ cao, siêu thuận từ, và diện tích bề mặt cao. Ngoài việc được vận dụng trong các lĩnh vực viễn thông, y tế, ứng dụng tần số cao, dẫn truyền thuốc, hiện nay ferrite spinel được nghiên cứu rộng rãi trong lĩnh vực xử lý nước thải để loại bỏ chất ô nhiễm thông qua hấp phụ [2] và phân hủy quang xúc tác [3], xúc tác [4].

Hầu hết các ferrite spinel có thể được thu hồi dễ dàng bằng tác dụng của từ trường ngoài. Tuy nhiên, hoạt tính xúc tác của ferrite spinel nguyên bản bị hạn chế bởi tính dẫn điện thấp, độ linh động điện tử kém, do đó nhiều nghiên cứu tập trung vào các chiến lược cải tiến ferrite spinel để kiểm soát kích thước hạt, hình thái học, sự kết tụ, cấu trúc bề mặt và tính toàn vẹn của mạng. Ảnh hưởng của tiền chất đến đặc tính cấu trúc của spinel ferrite Nhiều nghiên cứu cho thấy tiền chất ảnh hưởng đến cấu trúc, tính chất của xúc tác và giữ vai trò quan trọng chính trong hoạt tính xúc tác và độ chọn lọc của vật liệu [5]. Yang và cộng sự phát hiện rằng hoạt tính xúc tác của quá trình hydro hóa acetylene tại 50 °C sử dụng chất xúc tác Pd/Al2O3 muối Pd acetate đạt 78,6 %, cao hơn 31,1 % so với sử dụng tiền chất Pd chloride [6].

Yu và cộng sự nhận thấy rằng chất xúc tác Ni/Al2O3 sử dụng muối acetate đạt được hoạt tính cao nhất (85,6%) trong quá trình reforming acid acetic bằng hơi nước ở 450 °C, trong khi hoạt tính xúc tác của xúc tác điều chế từ muối chloride chỉ là 38,7% [7]. Từ những minh chứng trên, tiền chất nên được xem xét trong quá trình điều chế xúc tác để cân bằng các yếu tố ảnh hưởng đến vật liệu. Izabela Malinowska và nhóm nghiên cứu [8] nhận thấy các báo cáo tổng hợp vật liệu spinel ferrite đa phần tập trung vào ảnh hưởng của chất hoạt động bề mặt và điều kiện tổng hợp mà ít thông tin về ảnh hưởng của loại tiền chất nên đã thực hiện thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng tiền chất kim loại (sulfate: S1, nitrate: S2, chloride: S3) đến quy trình tổng hợp CFO. Từ phép phân tích BET, diện tích bề mặt riêng của S3 đạt giá trị cao nhất (50 m2.g-1) trong khi S2 thể hiện giá trị thấp nhất (31 m2.

Cả ba nguồn tiền chất đều cho ra CFO với độ tinh khiết cao, tuy nhiên mẫu S1 có độ tinh thể hóa cao nhất. Kích thước tinh thể cũng như kích thước hạt của S3 là nhỏ nhất so với các mẫu còn lại. Theo kết quả DLS, kích thước hạt của S3 chỉ 37 nm trong khi của S2 là 47 nm. Ngoài ra, nguồn tiền chất còn ảnh hưởng đến điểm đẳng điện, từ tính và độ rộng vùng cấm của vật liệu.

Trong một nghiên cứu khác, Divya Prasad tổng hợp vật liệu spinel MgCo 2O4 với bốn cấu trúc khác nhau từ bốn nguồn tiền chất (chloride, nitrate, acetate, sulfate) bằng phương pháp thủy nhiệt [9]. Tác động của các anion khác nhau có trong tiền chất muối kim loại có thể kiểm soát mật độ khuyết tật và sự biến đổi của các vị trí bazo. Kiểm soát bề mặt kiềm (basicity) của vật liệu dẫn đến sự phát triển của các vị trí hoạt động trên bề mặt xúc tác, ngoài ra còn ảnh hưởng đáng kể đến hình thái và diện tích bề mặt của vật liệu. Ảnh chụp FESEM của các mẫu MgCo2O4 (Hình 1.2) biểu diễn các hình dạng khác nhau khi thay đổi anion trong muối tiền chất.

[MgCo2O4]-[Cl−] sở hữu một hình thái giống như bông hoa 3D xốp mở rộng 3 do sự kết hợp của một mạng lưới lớn các thanh nano trong khi [MgCo2O4]-[NO3−] thể hiện cụm hình cầu kết hợp từ các nano dạng bản, [MgCo2O4]-[OAc−] tồn tại ở dạng bowknot, còn [MgCo2O4]-[SO42−] là tập hợp của các hạt nano hình hoa. DLS chứng minh rằng kích thước hạt tăng dần theo thứ tự (Cl− < NO 3− < OAc − < SO42−. Điểm đẳng điện của vật liệu cũng có xu hướng giảm dần theo thứ tự trên cho thấy sử dụng anion tiền chất Cl‒ kích thích sự tăng mật độ nhóm hydroxyl trên bề mặt xúc tác. Nghiên cứu về sự tồn tại base Lewis trên bề mặt vật liệu khẳng định số lượng lớn vị trí base Lewis (O2‒) có trong cấu trúc của [MgCo2O4]-[Cl−] do kích thước tương đối nhỏ của anion Cl‒ so với các anion khác và tương tác mạnh giữa Cl ‒ với tâm kim loại và tương tác với nhóm hydroxyl, hình thành nhiều vị trí hoạt động trên bề mặt xúc tác do đó hoạt tính xúc tác của [MgCo2O4]-[Cl−] là cao nhất.

Có thể thấy, các anion trong tiền chất muối kim loại giữ vai trò quan trọng trọng nghiên cứu điều chế vật liệu. Ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến hình thái, cấu trúc, đặc tính xúc tác, yếu tố giá thành cũng là mục tiêu cần cân nhắc trong việc chọn tiền chất. Trong nghiên cứu này sử dụng tiền chất muối chloride để tổng hợp vật liệu dựa vào sự cân nhắc giữa các ưu điểm về hình thái nêu trên và chi phí hóa chất. Ảnh FESEM của cấu trúc nano (a-d) [MgCo2O4]-[Cl−], (e-h) [MgCo 2O4]- [NO3−], (i-l) [MgCo2O4]-[OAc−] và (m-p) [MgCo2O4]-[SO42−] [9] 4 1.

Ứng dụng vật liệu CoFe2O4 trong phân hủy chất hữu cơ ô nhiễm CFO là một trong những spinel ferrite được nghiên cứu rộng rãi nhất, với ứng dụng linh hoạt trong nhiều lĩnh vực do tính chất ưu việt của nó như một ferrite cứng và cho thấy từ hóa bão hòa vừa phải, lực kháng từ cao, dị hướng tinh thể từ tính cao và độ cứng cơ học với tính ổn định hóa học tốt [10][11]. Trong lĩnh vực y sinh, CFO có có thể được sử dụng để phân tách từ tính, chụp cộng hưởng từ, dẫn truyền thuốc, giải phóng thuốc và điều trị ung thư [12][13][14]. CFO còn được sử dụng làm xúc tác để trong phản ứng tạo H2 [15], tách nước [16], hấp phụ hoặc loại bỏ chất ô nhiễm. Dựa trên tìm kiếm cơ sở dữ liệu Scopus với từ khóa “Cobalt ferrite water treatment” liệt kê số lượng bài báo đã xuất bản tính đến năm 2022 (Hình 1.3a) cho thấy ứng dụng CFO trong xử lý nước thải đã được chú ý hơn nhiều sau năm 2000 và xu hướng công bố ngày càng tăng được ghi nhận trong các năm gần đây.

Sự gia tăng nhanh chóng các ấn phẩm liên quan đến CFO cho thấy rõ sự quan trọng cũng như sự quan tâm của các nhà khoa học đến vật liệu này. Debika Gogoi [17] nghiên cứu về tổng hợp vật liệu S-scheme CFO-gC3N4 và khảo sát hoạt tính qua quá trình phân hủy chất màu (MB, MO, CR) với sự có mặt của H 2O2 dưới chiếu xạ ánh sáng nhìn thấy. Vật liệu composite này thể hiện sự hấp thu mạnh trong vùng ánh sáng khả kiến và độ rộng vùng cấm của chúng có thể được điều chỉnh đơn giản bằng cách thay đổi lượng CFO và gC3N4. Kết quả cho thấy năng lượng vùng cấm của CFO và gC3N4 lần lượt là 1,04 eV và 2,76 eV, do đó vật liệu sau khi kết hợp sẽ giảm năng lượng vùng cấm đáng kể.

Với điều kiện thí nghiệm sử dụng 0,5 g.L -1 xúc tác CFO-gC3N4, 2 mL H2O2 30 %, MB có nồng độ đầu 25 mg.L-1, sau 45 phút chiếu xạ dưới đèn Xenon 150 W 100 % MB bị loại bỏ khỏi dung dịch. Hơn nữa, do sự có mặt của CFO, xúc tác sau khi sử đụng được thu hồi bằng nam châm và tái sử dụng hiệu quả cho các lần tiếp theo. Trong một báo cáo khác, Peidong Hong đã phát triển mô hình phản ứng lai Fenton sử dụng hệ CFO/H2O2 ứng dụng phân hủy chất kháng sinh doxycyline [18]. CFO kết hợp tốt với H2O2 trong việc tạo ra các gốc tự do oxy hóa loại bỏ doxycyline.L- 1 CFO với 10 mM H2O2 có thể nhanh chóng phân hủy 92 % doxycyline (20 mg.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tiêu đề Luận văn thạc sĩ về hoạt tính xúc tác của vật liệu composite CoFe2O4 trong kỹ thuật hóa học của tác giả Lê Phạm Ngọc My, dưới sự hướng dẫn của PGS. Lê Minh Viễn tại Đại học Bách Khoa - ĐHQG TPHCM, tập trung vào việc tổng hợp và đánh giá hoạt tính xúc tác của vật liệu composite CoFe2O4/ZnO trong quá trình phân hủy chất hữu cơ bằng peroxymonosulfate. Nghiên cứu này không chỉ đóng góp vào lĩnh vực kỹ thuật hóa học mà còn mang lại những giải pháp tiềm năng cho việc xử lý nước thải và bảo vệ môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vật liệu xúc tác và ứng dụng của chúng trong công nghệ hóa học, bạn có thể tham khảo bài viết Tính chất xúc tác quang của vật liệu composite TiO2 trên nền graphene và carbon nitride, nghiên cứu về tính chất xúc tác của TiO2, một vật liệu quan trọng trong ngành hóa học. Bên cạnh đó, bài viết Nghiên cứu tổng hợp vật liệu Cu2O-TiO2-RGO và đánh giá hoạt tính quang xúc tác cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vật liệu composite khác trong ứng dụng xúc tác quang. Cuối cùng, bài viết Nghiên cứu hoạt tính xúc tác của MOF Zn3 5 PDC và MOF199 trong phản ứng dihydro benzimidazole và ghép đôi Ullmann sẽ giúp bạn khám phá thêm về các hợp chất MOF và ứng dụng của chúng trong xúc tác hóa học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và có cái nhìn tổng quát hơn về các nghiên cứu trong lĩnh vực xúc tác và hóa học.