Chương I: TỔNG QUAN 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước: 1.1 Tổng quan tình hình xử lý bùn đỏ Bùn đỏ là chất thải rắn của quá trình khai thác boxít và chế tạo oxit nhôm theo phương pháp Bayer. Dưới góc độ môi trường thì bùn đỏ là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm vì nó là một hỗn hợp bao gồm :sắt , nhôm, mangan… và một hàm lượng xút dư (do quá trình dung hòa và tách quặng alumin theo phương pháp Bayer). Mặc dù bùn đỏ không phải là chất thải nguy hại nhưng do kích thước hạt rất mịn nên phải mất diện tích rất lớn để chứa nó. Đi kèm với đó là khả năng gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, phát tán bụi ra môi trường xung quanh và lãng phí tài nguyên.
Vì vậy xử lý bùn đỏ là vấn đề cần thiết. Xử lý bùn đỏ ngoài mục tiêu giải quyết vần đề môi trường mà còn tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tế từ chất thải rắn. Với quy hoạch phát triển boxit ở Tây Nguyên đến năm 2015, mỗi năm sản xuất ra khoảng 7 triệu tấn alumin tương đương với việc thải ra môi trường 10 triệu tấn bùn đỏ. Đến năm 2015 là 15 triệu tấn alumin tương đương với 23 tấn bùn đỏ…đến 50 năm sau, sẽ có 1,15 tỷ bùn đỏ tồn đọng ở Tây Nguyên.
Vấn đề được đặt ra là các giải pháp về kỹ thuật (hồ chứa lót vải địa kỹ thuật) có thể đảm bảo giữ được bùn đỏ không thấm xuống đất, không hòa vào nước ngầm. Mội biến động về kỹ thuật, địa chất (vỡ đập ngăn, lũ quét…) đều có thể để lại hậu quả khôn lường cho các vùng dân cư tại hạ lưu các sông Đồng Nai và Seperok. Các vấn đề về môi trường: thiếu nước- chế biến alumin đòi hỏi một lượng nước lớn. Tài nguyên nước mặt và nước ngầm ở Tây Nguyên rất hạn chế, giảm tỉ lệ che phủ rừng và đa dạng sinh học, ô nhiễm bụi, không khí.
Xử lý bùn đỏ là một việc mang tính cấp thiết 1.2 Các phương pháp xử lý bùn đỏ trên thế giới Tồn trữ: trung hoà kiềm rồi đưa vào các kho bãi. Diện tích chứa trở nên rất lớn đang là vấn đề khó giải quyết [1,6] Dùng làm lớp phủ bề mặt cho cho các vật liệu ceramic và kim loại [3,4] Sử dụng bùn đỏ làm chất keo tụ, lọc nước [13] Thải bỏ tự do: dùng nước biển trung hoà rồi thải xuống sông, biển, nhưng phương pháp này hiện nay đã bị cấm. Tái sử dụng trong các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: nung kết làm vật liệu xậy dựng, dùng với vôi làm gạch, dùng làm xi măng [1,2,5] CNĐT : Th.S NGUYỄN VŨ UYÊN NHI Page 1 XỬ LÝ BÙN ĐỎ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TẠO GEOPOLYMER Dùng trong công công nghệ gốm sứ: dùng làm phụ gia trong sản xuất bột màu vô cơ, dùng làm phụ gia cải thiện màu sắc cho gạch [1,11] Sử dụng để san lấp nền đất.3 Tình hình nghiên cứu trong nước: Xử lý bùn đỏ theo phương pháp tồn trữ và thải bỏ: đây là phương pháp đang được sử dụng ở nhà máy hóa chất Tân Bình. Nhược điểm rất lớn của phương pháp này là diện tích sử dụng để tồn trữ bùn đỏ rất lớn.
Xử lý bùn đỏ để làm chất hấp phụ asenic và các kim loại nặng khác. Phương pháp này không xử lý triệt để hàm lượng chất thải bùn đỏ 1.4 Xử lý bùn đỏ theo phương pháp tạo Geopolymer Geopolymer là khái niệm dùng để chỉ họ các liên kết aluminosilicat kiềm được hình thành từ hoạt tính kiềm của các khoáng aluminosilicat. Phản ứng tổng hợp geopolymer có thể xảy ra ở điều kiện nhiệt độ áp suất thường hoặc gia nhiệt. Geopolymer là một loại vật liệu composite, là họ mới của vật liệu aluminosilicat tổng hợp từ nguyên liệu rắn chứa alumosilicat bằng các hoạt chất kiềm.
Bùn đỏ chứa hàm lượng NaOH dư chiếm từ 3-8%, Al2O3 : 18 -22%, SiO2: 8-10% và đặc biệt là cỡ hạt khoảng 400µm. Do vậy, có thể sử dụng bùn đỏ để làm nguyên liệu cho phản ứng geopolymer hóa. Tuy nhiên, hàm lượng SiO2 trong bùn đỏ thấp. Al2O3 và SiO2 tồn tại độc lập.
Do đó, hướng nghiên cứu của đề tài là bổ sung thêm vào SiO2 hoạt tính đê tăng khả năng geopolymer hóa của bùn đỏ. Các loại nguyên liệu có thể sử dụng để bổ sung SiO2 hoạt tính gồm : aluminoosilicat rắn, các khoáng công nghệp như: cao lanh, tràng thạch, tro bay, xỉ luyện kim, diatomite… Bùn đỏ đã được nghiên cứu xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau nhưng chưa có phương pháp nào có khả năng xử lý triệt để bùn đỏ. Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn hướng xử lý bùn đỏ theo phương pháp geopolymer hóa với một số loại phụ gia như diatomite, tro trấu…. Đây là hướng nghiên cứu xử lý bùn đỏ mới ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
Xử lý bùn đỏ theo hướng tạo geopolymer tận dụng được lượng NaOH có sẵn trong bùn đỏ và sử dụng được một khối lượng lớn bùn đỏ. Đây là biện pháp được hy vọng sẽ xử lý triệt để lượng chất thải bùn đỏ.S NGUYỄN VŨ UYÊN NHI Page 2 XỬ LÝ BÙN ĐỎ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TẠO GEOPOLYMER Chương II: GEOPOLYMER 1. Định nghĩa và phân loại: Khái niệm “geopolymer” (polymer hóa đất) được dùng để diễn tả họ các liên kết aluminosilicat kiềm được hình thành từ hoạt tính của các khoáng aluminosilicat. Sự tạo thành geopolymer là kết quả của phản ứng hóa học phức tạp không đồng nhất giữa vật liệu rắn Si – Al và dung dịch silicat kiềm mạnh.
Phản ứng tạo geopolymer là phản ứng tỏa nhiệt và xảy ra dưới áp suất không khí ở nhiệt độ dưới 100oC. Cơ chế tạo geopolymer được đề xuất nhiều nhất gồm 4 giai đoạn, các quá trình này diễn ra song song và không thể phân biệt được: Hòa tan Si và Al từ vật liệu aluminosilicat rắn trong dung dịch kiềm mạnh. Tạo thành chuỗi cơ sở (oligomer) Si – O – Si hoặc Si – O – Al trong pha nước. Quá trình đa trùng ngưng các oligomer tạo thành khung mạng aluminosilicat 3 chiều.
Tạo liên kết giữa các phân tử rắn thành khung geopolymer và đóng rắn trong hệ thống hình thành cấu trúc polymer rắn. Một số khung mạng có thể tạo thành: Hình: Một số dạng khung mạng. Geopolymer là họ mới của vật liệu aluminosilicat tổng hợp từ nguyên liệu rắn chứa aluminosilicat bằng hoạt chất kiềm. Khái niệm hoạt chất kiềm được hiểu là sự hòa tan nguyên liệu aluminosilicat trong môi trường kiềm mạnh được tạo ra từ dung dịch hydroxit natri hoặc hydroxit kali với nước.
Geopolymer phụ thuộc vào họ của polymer vô cơ, liên kết thành phân tử lớn bằng liên kết cộng hóa trị và có mạch chính là – Si – O – M – O – , M được hiểu chủ yếu là nhôm (Al), thứ yếu là sắt (Fe). Sự khác nhau giữa geopolymer và các polymer vô cơ khác là do các dạng của tiền chất silic và nhôm dùng để tổng hợp nên chúng. Polymer vô cơ thông thường được tạo thành bằng phương pháp sol-gel, sử dụng silic và alkoxide nhôm trong dung dịch CNĐT : Th.S NGUYỄN VŨ UYÊN NHI Page 3 XỬ LÝ BÙN ĐỎ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TẠO GEOPOLYMER rượu và nước như là tiền chất. Geopolymer thì lại được tạo thành bằng hoạt chất kiềm của nguyên liệu aluminosilicat rắn trong dung dịch kiềm mạnh của natri hydroxit hoặc kali silicat và natri hydroxit hoặc kali hyroxit.
Tiền chất Si là natri silicat, kali silicat và nguyên liệu aluminoslicat bị hòa tan. Trong khi đó, trường hợp này tiền chất Al là chỉ do nguyên liệu aluminosilicat hòa tan, mặc dù trong một số trường hợp dung dịch hoạt tính có lẫn tạp chất là cation Al. Hệ geopolymer đã thu hút rất nhiều nhà khoa học tham gia nghiên cứu trong thời gian qua. Có nhiều loại aluminosilicat khác nhau có thể dùng để tổng hợp geopolymer.
Bao gồm các nguyên liệu aluminosilicat rắn, khoáng công nghiệp như cao lanh, tràng thạch, bentonit, peclit,.; chất thải rắn công nghiệp như tro bay, bùn đỏ, quặng từ việc khai thác bentonit, peclit, xỉ luyện kim, xà gỗ,…Hiện nay nhóm nguyên liệu này được coi là tiềm năng chủ yếu dựa vào lý do môi trường. Hiện nay trên thế giới khuyến khích khôi phục và tái sử dụng chất thải công nghiệp nhằm bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ sức khỏe con người. Kỹ thuật tạo geopolymer sử dụng chất thải công nghiệp rắn có chứa aluminosilicat như là một nguyên liệu để sản xuất vật liệu có thể thay thế cho vật liệu xây dựng truyền thống với những tính chất cơ lý và tính chất nhiệt tương thích. [5, 6, 7] Dựa trên tỉ lệ mol và đặc tính tạo geopolymer mà người ta có thể phân chia như sau: Bảng: Mối quan hệ giữa tỉ lệ Si : Al và khung mạng hình thành.
Tỉ lệ mol Si : Al 1:1 2:1 3:1 > 3:1 Đặc tính của geopolymer Mạng 3D Liên kết ngang 2D 2. Cơ chế tạo geopolymer: 2.1 Hòa tan Si2+ và Al3+ từ vật liệu aluminosilicat rắn trong dung dịch kiềm mạnh: Trong dung dịch nước bề mặt ion kim loại của các oxit aluminosilicat có thể phối hợp với phân tử nước và được hydro hóa các vị trí bề mặt này tạo thành các nhóm silanol (>Si-OH) và aluminol (>Al-OH). Các nhóm này bao gồm các vị trí bề mặt hoạt tính, nơi mà ion hydroxit của dung dịch kiềm tác dụng hóa học tạo thành các hình thái bề mặt hóa học. Dưới một cơ chế phức tạp, ion silic và nhôm được giải phóng ra khỏi các hình thái bề mặt vào trong dung dịch.
Sự hòa tan Si2+ và Al3+ từ nguyên liệu ban đầu được mô tả bởi phương trình hóa học (1*): (SiO2, Al2O3) + 2MOH + 5H2O – > Si(OH)2 + 2Al(OH) + 2M+ Trong đó: M là Na hoặc K. Trong dung dịch nước, sự hòa tan hóa học của các khoáng chứa Si và Al và các khoáng thông thường khác của hợp chất aluminosilicat diễn ra trong khoảng giá trị pH cao, tỉ CNĐT : Th.S NGUYỄN VŨ UYÊN NHI Page 4 XỬ LÝ BÙN ĐỎ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TẠO GEOPOLYMER lệ hòa tan của các vật liệu này tăng khi giá trị pH của dung dịch tăng [4, 5]. Hơn nữa, tỉ lệ hòa tan của vật liệu rắn chứa Si2+, Al3+ còn phụ thuộc vào kích thước và diện tích bề mặt đặc trưng của các phần tử, vì nó liên quan đến phản ứng hóa học không đồng nhất.2 Tạo thành chuỗi cơ sở (oligomer) Si-O-Si hoặc Si-O-Al trong pha nước: Nồng độ Si2+ và Al3+ trong dung dịch tăng dần dần, phản ứng hóa học xảy ra tại liên kết nhóm chức hyroxit.