ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, các ngành nghề sản xuất nông lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm ổn định lâu dài cho đời sống của nhân dân cả nước, nghề nông lâm nghiệp đang chiếm phần lớn trong tỷ lệ lao động xã hội so với các ngành nghề dịch vụ khác. Nông nghiệp nông thôn có đóng góp cho nền kinh tế quốc dân với 20% GDP, trên 25% giá trị kim ngạch xuất khẩu cả nước. [15] Trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi được coi là một trong những nghề chính, chủ yếu là hình thức chăn nuôi theo kiểu hộ gia đình riêng lẻ.
Tuy với số lượng gia súc, gia cầm mỗi nhà ít, chỉ vài ba con nhưng qua vài năm sau cũng sẽ có nhiều điều bất ổn như: Chuồng trại thiếu sự quy hoạch, các biện pháp xử lý chất thải hầu như không có. Ta nhận thấy hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường từ chăn nuôi đang ngày càng gia tăng nguyên nhân do phần lớn các hộ gia đình thường dùng thức ăn công nghiệp, thời gian nuôi ngắn và thực hiện quanh năm nên lượng phân tươi thải ra môi trường là rất lớn. Các biện pháp xử lý truyền thống chủ yếu dùng vôi bột và hóa chất đã gây ra các dư lượng trong sản phẩm sau xử lý, làm tiêu diệt các vi khuẩn có ích, các chất thải không tiêu hủy được, tạo điều kiện cho các vi sinh vật có hại phát triển. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến các dịch bệnh, tác động xấu đến môi trường ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sức khỏe và đời sống của người dân.
Vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi được cả thế giới và trong nước rất quan tâm, các kết quả nghiên cứu cho thấy tại các khu vực chăn nuôi gia cầm thì ô nhiễm môi trường đang ngày một nghiêm trọng, đặc biệt là môi trường không khí. Mùi và bụi sinh ra trong quá trình chăn nuôi gia cầm đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống và sức khỏe cộng đồng. n 2 Theo các nhà môi trường thì các khí ô nhiễm sinh ra trong quá trình chăn nuôi gia cầm đều xa thải tự do. Theo đánh giá của người dân, từ thời điểm đàn gia cầm từ 30 ngày tuổi trở lên, mùi và bụi từ các khu chăn nuôi, đặc biệt là các trang trại sinh ra là rất lớn, mùi hôi thối có thể cảm nhận ở các vị trí xa trang trại 200m –300m.
Nồng độ các khí độc như NH3 , H2 S và bụi tăng dần theo thời gian sinh trưởng của đàn gia cầm và cao hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn không khí cho môi trường xung quanh, các chất thải gây ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, làm giảm sức đề kháng của vật nuôi, tăng tỉ lệ mắc bệnh, năng suất giảm sút, tăng các loại chi phí phòng bệnh do đó hiệu quả kinh tế của chăn nuôi không cao. Tại xã Tân Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên thì nền kinh tế chủ yếu là phụ thuộc vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, cùng với sự gia tăng đàn vật nuôi, cụ thể là đàn gia cầm thì tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi cũng đang ở chiều hướng báo động, do vậy lượng chất thải phát sinh ra môi trường là rất lớn, đó là vấn đề thực sự cấp bách cần được mọi người quan tâm và chú trọng giải quyết. Để khắc phục được tình trạng trên phải đề ra các biện pháp quy hoạch cải tạo, xử lý chất thải đối với từng hộ gia đình để đạt hiệu quả cao nhất nhằm đảm bảo cân bằng sinh thái môi trường và tiết kiệm cho người nông dân. Từ thực tiễn trên, cũng như thông qua việc nghiên cứu thực trạng môi trường chăn nuôi gia cầm tại xã Tân Linh.
Bằng những kiến thức đã học trên giảng đường và trải nghiệm thực tế, em muốn góp phần giải quyết được các vấn đề nan giải về môi trường trên mà còn đóng góp cho nền kinh tế địa phương cũng như đề ra các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi hiệu quả, em nhận thấy mô hình sử dụng chế phẩm BIO-TMT cần được nhân rộng ra nhiều địa phương, góp phần thúc đẩy việc chăn nuôi phát triển theo chiều hướng có lợi và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông nghiệp, nông thôn. Được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Môi Trường và dưới sự hướng dẫn của thầy giáo n 3 PGS.TS Lương Văn Hinh, em tiến hành thực hiện đề tài: “Ứng dụng mô hình sử dụng chế phẩm BIO-TMT trong xử lý chất thải chăn nuôi gà quy mô hộ gia đình tại xã Tân Linh- huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích đề tài 1. Mục tiêu chung: - Ứng dụng chế phẩm sinh học BIO-TMT trong xử lý chất thải chăn nuôi gà quy mô hộ gia đình tại xã Tân Linh- huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên.
Mục tiêu cụ thể: - Đánh giá tình hình sản xuất chăn nuôi trên địa bàn xã Tân Linh- huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên. - Xây dựng mô hình sử dụng chế phẩm BIO- TMT để xử lý chất thải chăn nuôi cho các hộ gia đình tại địa bàn xã Tân Linh- huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên. - Đánh giá kết quả áp dụng mô hình sử dụng chế phẩm BIO- TMT trong xử lý chất thải chăn nuôi tại địa phương. - Đề xuất giải pháp cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường chăn nuôi tại địa phương.3 Yêu cầu đề tài - Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực đúng với thực tế tại địa phương tiến hành thực tập.
- Các mô hình thử nghiệm phải tuân thủ theo quy tắc an toàn, đảm bảo vệ sinh và theo đúng tỷ lệ các thành phần theo chỉ định của loại chế phẩm sinh học. - Tiến hành điều tra theo bộ câu hỏi trong phiếu điều tra đã được chuẩn bị trước: Bộ câu hỏi phải dễ hiểu, đầy đủ các thông tin cần thiết từ các hộ dân cư, các ý kiến phản hồi đánh giá đầy đủ. - Phân tích các chỉ tiêu cần thiết trong quá trình thực tập để việc thực tập đạt được kết quả cao nhất, phản ánh đúng hiện thực và mục tiêu đề ra. n 4 - Kết luận phản ánh đúng thực trạng, kiến nghị phải phù hợp với tình hình phát triển và ý kiến của dân cư trong toàn địa phương.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này. - Việc thực hiện trong thực tế giúp nâng cao việc áp dụng các tiến bộ trong nghiên cứu đến với người nông dân. - Nâng cao trình độ tay nghề, là những bước đầu quan trọng trong việc trải nghiệm thực tế đến với công việc tương lai sau này, tạo kỹ năng làm việc độc lập, phát huy tinh thần tự giác, trách nhiệm đối với công việc được giao.2 Ý nghĩa trong thực tiễn - Khắc phục tình trạng ô nhiễm không khí do chất thải chăn nuôi theo hướng thân thiện với môi trường. - Cải thiện môi trường xung quanh về hiện trạng đất, nước, không khí.
- Đẩy lùi được nhiều bệnh dịch nguy hiểm đối với con người và sinh vật xung quanh. - Chi phí lợi ích có lợi cho người chăn nuôi, làm giảm thời gian và công sức lao động. - Đưa các chế phẩm sinh học có lợi đến với người nông dân có tham gia sản xuất, chăn nuôi, hiểu về những vướng mắc chưa được giải quyết trong chăn nuôi của người nông dân tại địa phương. - Áp dụng rộng rãi việc sử dụng chế phẩm BIO - TMT trong hoạt động chăn nuôi tại địa phương.
n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Khái niệm chất thải Khi nhắc đến chất thải thải chúng ta luôn nghĩ đến đó là những vật và chất mà con người không còn muốn sử dụng và thải ra môi trường và là những chất phát sinh ra từ các hoạt động trong cuộc sống như hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, hay từ các khu dân cư, hộ gia đình…tạo nên.2 Khái niệm chất thải trong chăn nuôi Chất thải chăn nuôi là những sản phẩm thải bỏ từ quá trình chăn nuôi và các hoạt động phục vụ quá trình chăn nuôi của con người. Chất thải chăn nuôi bao gồm: Phân, nước tiểu, vật liệu lót nền chuồng, khí độc phát sinh, và các chất khác. Ở nước ta hiện nay, hằng năm ngành chăn nuôi thải ra trên 73 triệu tấn chất thải rắn bao gồm phân khô, thức ăn thừa và khoảng 20-30 triệu khối chất thải lỏng ( phân lỏng, nước tiểu, chất rửa chuồng trại). Trong đó, khoảng 50% lượng chất thải rắn (36,5 triệu tấn), 80% chất thải lỏng (20-24 triệu tấn) xả thẳng ra tự nhiên hoặc sử dụng không qua xử lý.
Một phần không nhỏ trong số đó là chất thải chăn nuôi gia súc, gia cầm. Đây là những tác nhân gây ô nhiễm nghiêm trọng ( Lưu Anh Đoàn, 2006) [6]. - Đặc tính của chất thải chăn nuôi: Chất thải chăn nuôi đặc trưng nhất là phân. Phân bao gồm những chất không tiêu hóa được hoặc những chất thoát khỏi sự tiêu hóa vi sinh hay men tiêu hóa, hay các khoáng chất dư thừa mà cơ thể không sử dụng được như P2O5 , K2O, CaO, MgO.
Ngoài ra còn có các chất cặn bã của dịch tiêu hóa (trypsin, pepsin) và các chất nhờn theo phân ra ngoài, các vi sinh vật dính vào thức ăn hay n 6 trong ruột bị thải ra ngoài. Lượng phân thải ra sẽ thay đổi theo lượng thức ăn và thể trọng của vật nuôi, dựa vào đó ta tính được lượng phân.1 Lượng phân thải ra của một số loại vật nuôi STT Loài vật nuôi Lượng phân thải mỗi ngày(% thể trọng) 1 Lợn 6,00 – 7,00 2 Bò sữa 7,00 – 8,00 3 Bò thịt 5,00 – 8,00 4 Gà 5,00 (Nguồn: Nguyễn Quế Côi, 2006) [4] Bảng trên cho thấy bò sữa có lượng phân thải ra mỗi ngày chiếm tỷ lệ cao nhất ( 7,00 – 8,00% thể trọng), tiếp theo là bò thịt, lợn, gà. Vấn đề đáng lo ngại cho môi trường hiện nay là số lượng vật nuôi càng lớn thì chất thải càng nhiều, nếu không có biện pháp xử lý thì ngành chăn nuôi sẽ gây ô nhiễm môi trường khá nghiêm trọng. Riêng đối với chăn nuôi gà ô nhiễm chủ yếu là do các nguồn: Phân, nước vệ sinh chuồng trại, các chất tẩy rửa hay sát trùng chuồng trại.
chúng ảnh hưởng tới môi trường xung quanh, gây ra mùi hôi khó chịu.