mở đầu phân giải các đầu tự do của các chuỗi tạo thành xenlobioza. Exo-xenlulaza thuộc avixelaza. Endo-xenlulaza thuộc avixelaza. Sự thuỷ phân xenluloza tự nhiên phải có sự hiệp đồng của cả 3 loại enzim: Endo-glucanada, exo-glucanaza, β-glucozidaza.
Chúng tạo thành phức hệ enzim nhiều thành phần trên bề mặt của các phân tử xenluloza. Sinh tổng hợp xenlulaza của VSV Quá trình phân giải xenluloza trong tự nhiên là một quá trình phức tạp đòi hỏi sự tham gia của phức hệ enzim xenlulaza. Sinh tổng hợp xenlulaza chịu sự Đại học bách khoa Hà Nội 12 Luận văn thạc sỹ-2007 Đào Thị Minh Hạnh điều khiển của bộ máy di truyền, các chất cảm ứng và kìm chế trong quá trình trao đổi chất của VSV. Nhiều tác giả cho rằng, xenlulaza là enzim cảm ứng và chất cảm ứng tốt nhất là xenluloza và lactoza.
Nhưng một số khác lại đưa ra bằng chứng cho rằng xenlulaza là enzim cấu trúc, có thể sinh tổng hợp trên môi trường không có xenluloza hay chất cảm ứng trên. Tuy nhiên, trong thực tế VSV thường tổng hợp xenlulaza tên môi trường có chứa xenluloza hay chất cảm ứng thích hợp. Shikates cho rằng: Xenluloza không phải là chất cảm ứng trực tiếp, mà trong tự nhiên chúng bị enzim phân huỷ thành một lượng nhỏ xenlobioza, chất này có thể thẩm thấu qua màng tế bào VSV và được coi là chất cảm ứng, nhưng nếu nồng độ xenlobioza cao thì lại ức chế sinh tổng hợp xenlulaza. Vì vậy, để thu nhận xenlulaza cao người ta thường nuôi cấy trên môi trường có chứa các chất không dễ thuỷ phân như: bã mía, rơm rạ, giấy kết hợp với các VSV đồng hoá tốt xenlobioza [40], [45], [47], [50].
Spirodonov [44] nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn cacbon lên sinh tổng hợp xenlulaza của chủng XK Thermomonospora fusca cho thấy rằng, nguồn cacbon dễ tiêu (1%) glucoza, xelobioza và xyloza không ức chế sinh tổng hợp xenlulaza của VSV. Tuy nhiên nếu nuôi trên môi trường có xenluloza vi tinh thể (microcrystalline cellulose) thì sẽ cho hoạt lực xenlulaza cao nhất. Hoạt lực xenlulaza sẽ thấp hơn từ 12-30 lần nếu trong môi trường nuôi cấy không bổ sung glucoza và xyloza. Nhiều sản phẩm trung gian của chu trình Kreb là chất ức chế sinh tổng hợp xenlulaza của VSV.
Nguồn Nitơ trong môi trường cũng ảnh hưởng tới quá trình sinh tổng hợp xenlulaza. Nguồn Nitơ hữu cơ và muối nitrat thường kích thích sinh tổng hợp xenlulaza ở nhiều loài VSV, còn muối amon thì lại ức chế quá trình sinh tổng hợp xenlulaza ở hầu hết các VSV [40], [45]. Đại học bách khoa Hà Nội 13 Luận văn thạc sỹ-2007 Đào Thị Minh Hạnh 1. Các nhóm VSV phân giải xenluloza Trong tự nhiên có rất nhiều loài VSV có khả năng phân huỷ xenluloza bao gồm VK, XK và các loại nấm.
* VK: là nhóm VSV được nghiên cứu nhiều. Năm 1975 lần đầu tiên L.Popov đã phát hiện ra rằng các vi khuẩn kị khí tham gia vào quá trình lên men xenluloza. Thế kỷ 19 các nhà khoa học đã phân lập được một số VSV kị khí có khả năng phân giải xenluloza từ phân và dạ cỏ của động vật nhai lại. Omelianski đã thuần khiết và mô tả 2 giống vi khuẩn phân giải xenluloza và nêu ra 2 kiểu lên men xenluloza: Lên men Hydro do loài Bacillus cellulosae hydrogenicus và lên men metan-Bacillus cellulosae metanicus [4].
Đầu thế kỷ 20, ngoài những nhóm vi khuẩn kị khí người ta phân lập được các nhóm VK hiếu khí ưa ấm, ưa nhiệt có khả năng phân giải xenluloza. Hơn nữa trong môi trường có độ ẩm cao hơn, khả năng phân giải xenluloza và hemixenluloza của các nhóm VK cũng tăng lên [11], [35], [36], [45]. - VK hiếu khí: Azotobacter, Flavobacetrium, Archromobacter, Pseudomonas, Bacillus, Cellulomonas, Vibrio, Cellvibrio, Cytophaga, Angioccocus, Polyangium, Sporocytophaga, Sorangium, Archangium, Promyxobacterium… - VK kị khí: Người ta thường gọi quá trình phân giải xenluloza kị khí là quá trình lên men xenluloza. Điển hình là VK trong khu hệ VSV trong dạ cỏ của động vật nhai lại: Ruminococcus flavofeciens, R.parvum, Bacteroides succinpgenes, Butyrivibrio fibriosolvens, Clostridium cellobioparum, Cillobacterium cellosolvens… * XK: Là một nhóm VK đặc biệt, Gram dương, hiếu khí, tế bào đặc trưng bởi sự phân nhánh, thường có mặt quanh năm trong tất cả các loại đất.
Đại học bách khoa Hà Nội 14 Luận văn thạc sỹ-2007 Đào Thị Minh Hạnh XK phân giải xenluloza được phân lập từ các mẫu đất, mùn rác, mẫu mùn ở những nơi có chứa xenluloza. Các nhóm XK phân giải xenluloza: Micromonospora, Proactinomyces, Nocardia, Actinomyces, Streptomyces, Streptosporangium, Thermomonospora, Thermoactinomyces… [4], [11], [23], [56]. *Nấm: Có rất nhiều loài nấm phân giải xenluloza mạnh khi độ ẩm cao và nhiệt độ 20 - 300C, pH trong khoảng từ 3,5 - 6, 6. Vì vậy, chúng thường phân huỷ xenluloza ở giai đoạn cuối của bể ủ, khi nhiệt độ bể ủ lạnh đi.
*Vi nấm: Trichoderma, Fusarium, Chaetomium, Aspergillus, Phanerochaete, Penicilium, Verticilium,… Tuy nhiên cũng có một số nấm ưa nhiệt (40 - 450 C) có thể sinh tổng hợp xenlulaza chịu nhiệt. Chúng sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng hoạt lực xenlulaza trong dịch nuôi cấy lại thấp [11], [41], [45], [53], [54]. Sự phân giải hợp chất cacbon trong tự nhiên và các biện pháp xử lý rác thải bằng VSV 1. Sự phân giải hợp chất cacbon trong tự nhiên Tương tự như các quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ trong tự nhiên là quá trình sinh hoá phức tạp.
Nhờ hoạt động sống của VSV, một lượng lớn các chất hữu cơ bị phân giải và làm giảm trọng lượng. Trong quá trình này các hyđratcacbon (xenluloza, pectin, hemixenluloza, lignin.) được phân giải thành những phần nhỏ hơn, sinh khối VSV mới được tạo thành, đồng thời tạo ra các sản phẩm của quá trình trao đổi chất là các chất khí (NH 3 , CO 2 .), các axit hữu cơ như: axit focmic, axit axetic, axit propionic, axit lactic, axit béo. Chu trình chuyển hoá hợp chất cacbon trong tự nhiên được chuyển hoá qua hàng loạt các phản ứng hoá học, xúc tác mỗi phản ứng là một enzim. Để duy trì sự sống, các VSV sử dụng các sản phẩm do chúng phân huỷ hay do VSV Đại học bách khoa Hà Nội 15 Luận văn thạc sỹ-2007 Đào Thị Minh Hạnh khác tạo ra.
Trong quá trình chuyển hoá vật chất trong tự nhiên có nhiều loại VSV cùng tham gia, sản phẩm chuyển hoá của loài VSV này lại là cơ chất cho VSV khác, hoạt động của VSV diễn ra phức tạp và có mối liên quan chặt chẽ với nhau [49],[42]. Xenluloza là thành phần cơ bản của tế bào thực vật và là nguồn cacbon dự trữ lớn nhất trong tự nhiên. Do vậy, sản phẩm của quá trình phân giải xenluloza là một phần cơ bản nhất tạo nên phân hữu cơ và mùn rác. Chúng giữ vai trò to lớn trong sản xuất nông nghiệp.
* Lên men xenluloza là quá trình phân giải kỵ khí xenluloza nhờ các VSV sinh metan hay VSV khử sunphat. Cơ chế hoá học của quá trình lên men xenluloza phức tạp, song có thể tóm tắt theo phương trình phản ứng sau: 1. nC 6 H 10 O5 → nCH 3 CH 2 CH 2COOH +CH 3 COOH + H 2 + CO 2 + Kcal. nC 6 H 10 O5 →nCH3 CH 2 CH2 COOH +CH 3 COOH + CH 4 + CO 2 + Kcal.
* Phân giải xenluloza hiếu khí có ý nghĩa quan trọng đối với cây trồng. Cũng như phân giải kỵ khí, trong phân huỷ hiếu khí xenluloza được phân giải thành các axit hữu cơ, thường là các axit uronic (axit mùn) và các oxit - axit đơn giản hơn. Các chất này tiếp tục bị oxy hoá và sản phẩm cuối cùng là CO 2 và H2 O. Cơ chế hoá học của quá trình phân giải xenluloza phức tạp song có thể tóm tắt theo phương trình sau: 1.
nC 6 H 10 O5 + O2 → R-CHOHCOOH + H 2 O + CO2 + Kcal. R-CHOHCOOH + O2 → CO 2 + H2 O + Kcal. Đại học bách khoa Hà Nội 16 Luận văn thạc sỹ-2007 Đào Thị Minh Hạnh Qua các giai đoạn trong quá trình phân giải xenluloza hình thành các đường hoà tan và các axit hữu cơ, chúng là nguồn dinh dưỡng thích hợp cho các loại VSV đất, đặc biệt là các VSV cố định nitơ (Azotobacter và Clostridium). Cơ chế hình thành mùn rác nhờ VSV VSV giữ vai trò quan trọng trong quá trình tạo độ phì nhiêu cho đất, vì chúng không những tham gia vào quá trình hình thành đất, mà còn khoáng hoá các chất hữu cơ của xác thực, động vật hình thành mùn (humus).
Cũng như quá trình tạo độ phì cho đất, các oxit - axit trong quá trình phân giải hydratcacbon tổ hợp với các protein và axit amin tạo thành mùn rác dưới sự tham gia trực tiếp của VSV. Trong các axit mùn hình thành qua phân giải chất hữu cơ thực vật như xenluloza thì axit humic hình thành trong quá trình lên men hiếu khí có giá trị tạo độ phì cho đất cao nhất. Vì vậy, phương pháp ủ rác hiếu khí là cách nhận được các sản phẩm ổn định nhất, giống như quá trình oxy hoá sinh học các chất hữu cơ diễn ra tự nhiên trong đất [55]. Bản chất của phương pháp xử lý phế thải hữu cơ bằng vi sinh vật Ủ rác (composting) là phản ứng các VSV khoáng hoá các chất hữu cơ thành mùn rác ở điều kiện tối ưu.
Thời gian ủ không những phụ thuộc vào vòng đời sinh học của VSV trong bể ủ, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố môi trường và trạng thái di truyền của VSV. Do đó, thời gian ủ cũng khó rút ngắn xuống dưới 1 tháng nếu không cải tiến hệ thống ủ và bổ sung các chủng VSV có hoạt tính phân giải cao [55]. Trong tự nhiên, các chất hữu cơ chuyển hoá nhờ VSV qua hàng loạt các bước một cách tự phát phụ thuộc vào thành phần của cơ chất và yếu tố môi trường. Quá trình chuyển hoá chậm, không liên tục và không đồng nhất, muốn quá trình ủ đáp ứng được qui mô công nghiệp cần phải: Đại học bách khoa Hà Nội 17 Luận văn thạc sỹ-2007 Đào Thị Minh Hạnh - Rút ngắn quá trình xử lý (ủ) và chi phí năng lượng thấp.
- Bảo đảm sản phẩm cuối cùng không những an toàn sử dụng cho nông nghiệp mà phải thảo mãn yêu cầu phân bón hữu cơ. - An toàn vệ sinh cho cây trồng và các sản phẩm của cây trồng [55]. Trong quá trình thu gom phế liệu thành đống, các VSV có sẵn trong đó bắt đầu hoạt động làm cho nhiệt độ bể ủ bắt đầu tăng lên, mỗi loại VSV có khả năng sinh trưởng ở nhiệt độ tối thiểu, tối thích và tối đa khác nhau, người ta chia chúng thành 3 nhóm chính: ưa lạnh (dưới 250C), ưa ấm (20-250C) và ưa nhiệt (trên 450 C). Một số tài liệu còn chia các VSV phát triển ở nhiệt độ cao (trên 700C) thành nhóm cực ưa nhiệt [11], [34], [37].