CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU VỀ CÂY LÚA 1. Nguồn gốc, phân loại và phân bố 1.1 Nguồn gốc Các nhà khoa học tin rằng loài Oryza sativa nguyên thủy có nguồn gốc liên quan tới những vùng khí hậu ẩm ướt, mặc dù nó không phải là cây nhiệt đới.
Chúng có thể chính là hậu duệ của cỏ dại được trồng ở các vùng trũng, chân đồi tại các sườn dốc dãy Himalaya. Một quan điểm khác cho rằng lúa gạo có thể có nguồn gốc từ miền nam Ấn Độ, sau đó lan rộng ra phía bắc của đất nước và sau đó xuất hiện trải dài khắp Trung Quốc trở đi. Lúa gạo tiếp tục xuất hiện tại Hàn Quốc, Philippines (khoảng 2000 TCN) và sau đó là Nhật Bản và Indonesia (khoảng 1000 TCN). Những du khách Ả Rập đã mang lúa gạo đến Ai Cập, Ma-rốc và Tây Ban Nha và lan rộng khắp cả vùng đất châu Âu.
Bồ Đào Nha và Hà Lan đã mang lúa gạo đến các thuộc địa của họ ở Tây Phi và sau đó đến Châu Mỹ. Hành trình của giống loài này tiếp tục được những Tây Ban Nha mang lúa gạo đến Nam Mỹ vào đầu thế kỷ 17 [7]. Hiện nay, hai giống lúa chính được trồng trên toàn thế giới là Oryza sativa indica và Oryza sativa japonica. Hai loài lúa này và Oryza sativa L.
đều thuộc nhóm loài Oryza sativa complex cùng với 5 loài hoang dã là O. Trong số đó, chỉ có O.rufipogon tạo ra con lai F1 với O.sativa, do đó hai loài này được coi là thuộc về một loài sinh học duy nhất. Cùng với tất cả các bằng chứng gián tiếp, điều này gợi ý cho rằng O.rufipogon là tổ tiên của O. Tương tự, với các bằng chứng thuyết phục trên, O.barthii chính là tổ tiên của lúa gạo châu Phi O.2 Phân loại Các giống O.
sativa được phân thành sáu nhóm trên dựa trên mã di truyền. Trong đó, lúa indica được biết đến rộng rãi thuộc nhóm I và lúa japonica thuộc nhóm VI, những giống được gọi là lúa javanica cũng thuộc nhóm VI và được chỉ định là giống japonica nhiệt đới trái ngược với giống japonica ôn đới được 8 trồng ở khí hậu ôn đới. Căn cứ vào nguồn gốc đa phát sinh của indica và japonica, indica có lẽ đã được thuần hóa ở chân đồi của dãy Himalaya, Đông Ấn Độ và japonicas ở phía Nam Trung Quốc [9].3 Phân bố Ngoài trừ Nam Cực, hai giống lúa gạo O. sativa phổ biến được rộng rãi như Bắc và Nam Mỹ, các vùng đồng bằng thuộc Châu Âu, Trung Đông và Châu Phi, đặc biệt nằm rải rác cả vùng đất Châu Á.
Tuy nhiên việc trồng trọt O. glaberrima chỉ giới hạn ở Châu Phi, nơi giống này sẽ bị nhanh chóng thay thế bởi O. Các giống lúa indica phân tán khắp vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ Ấn Độ, còn japonica di chuyển về phía bắc từ Nam Trung Quốc và trở thành kiểu sinh thái ôn đới. Chúng cũng di chuyển về phía nam đến Đông Nam Á và từ đó đến Tây Phi và Brazil và trở thành kiểu sinh thái nhiệt đới.
Lúa hiện được trồng ở các vùng nằm trong vĩ độ 55°N và 36°S do thích hợp với yếu tố thời tiết thích hợp, đó là nhờ những vùng đất thấp và vùng đất cao dễ trữ nước sau thời gian có mưa, dễ tưới tiêu. Do sự chọn lọc cho những mục đích sử dụng của con người và sự thích nghi với các môi trường đa dạng đã dẫn đến nhiều giống cây trồng mới được phát sinh, các nhà khoa học ước tính có khoảng 120000 giống lúa tồn tại trên thế giới. Sau khi thành lập Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế vào năm 1960, việc cải tiến giống lúa cho năng suất cao đã được phát triển, những giống này hiện được trồng ở 70% diện tích đất lúa trên thế giới [11]. Trên 100 quốc gia, hàng nghìn giống O.
sativa được trồng rộng rãi và phân thành ba giống sinh thái: giống indica hạt dài được trồng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á; giống japonica hạt ngắn/trung bình được trồng ở các vùng ôn đới như Nhật Bản và miền bắc Trung Quốc; và giống javonica hạt với độ dài trung bình được trồng ở Philippines và các khu vực miền núi của Madagascar và Indonesia [12]. Giá trị kinh tế Cây lúa là cây trồng lâu đời và là lương thực chính tại châu Á, cũng như ngô tại Nam Mỹ, hạt kê tại châu Phi hay lúa mì của tại châu Âu và Bắc Mỹ. Tuy nhiên, trên toàn thế giới, khoảng 50% dân số thế giới sử dụng vào gạo làm nguồn lương thực chính, trong đó có hơn 110 quốc gia sản xuất và tiêu thụ lúa gạo với mức độ khác nhau, trong đó sản xuất lúa gạo và tiêu thụ lúa gạo cao 9 tập trung chủ yếu ở khu vực châu Á.1 Trên thị trường thế giới Lúa là loại cây trồng cung cấp lương thực cho khoảng một nửa dân số thế giới. Lúa là cây trồng quan trọng trên toàn cầu, chiếm hơn 21% nhu cầu năng lượng của con người và lên đến 76% lượng calo của cư dân Đông Nam Á [13].
Sản lượng sản xuất lúa gạo của 10 nước nhiều nhất trong năm 2020 – 2021 [14]. Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), sản lượng gạo toàn cầu trong niên vụ 2020/2021 là 148,30 triệu tấn ở Trung Quốc, tiếp theo là 120,00 triệu tấn ở Ấn Độ, 35,30 triệu tấn ở Bangladesh, 34,90 triệu tấn ở Indonesia, và 27,10 triệu tấn tại Việt Nam. Hơn nữa, Thái Lan sản xuất 18,6 triệu tấn, Philippines sản xuất 12 triệu tấn, Nhật Bản sản xuất 7,62 triệu tấn (Xem hình 1.2 Ở Việt Nam hiện nay Trong giai đoạn 20 năm (2001-2020), ngành sản xuất và xuất khẩu gạo Việt Nam đã ghi nhiều dấu ấn và sản lượng. Diện tích gieo cấy lúa năm 2020 đạt 7,278 triệu ha, giảm khoảng 215.000ha so với năm 2001.
Năng suất lúa năm 2020 đạt 58,7 tạ/ha, tăng 1,1 tạ/ha/năm; sản lượng lúa tăng bình quân tăng 0,5 triệu tấn/năm (Xem hình 1. Lượng gạo và trị giá xuất khẩu gạo giai đoạn 2001-2020 [15]. Gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng bình quân 130.000 tấn/năm; giá gạo xuất khẩu tăng khoảng 17 USD/tấn/năm. Năm 2020 lượng gạo xuất khẩu đạt 6,25 triệu tấn, giá bình quân 499,3 USD/tấn, giá trị xuất khẩu gạo đạt 3,12 tỷ USD, tăng 2,52 triệu tấn về lượng và 2,8 tỷ USD về giá trị so với năm 2001 [15].3 Giá trị dinh dưỡng Gạo là loại lương thực dinh dưỡng cung cấp nhiều năng lượng cho các hoạt động của con người do thành phần chiếm đa số trong gạo là carbohydrate (tinh bột).
Mặt khác, gạo chứa hàm lượng các chất đạm ở mức trung bình chỉ chiếm 8% và hàm lượng chất béo ở mức 1% không đáng kể [16]. Bột gạo rất giàu tinh bột và được sử dụng để làm nguyên liệu thực phẩm khác nhau. Gạo lứt rất giàu một số vitamin, đặc biệt là B1 hoặc thiamine (0,34 mg), B26 hoặc riboflavin (0,05 mg), niacin hoặc axit nicotinic (4,7 mg). Ngược lại, gạo trắng nghèo vitamin (0,09 mg vitamin B1, 0,03 mg vitamin B2 và 1,4 mg niacin) và khoáng chất vì chúng chủ yếu được tìm thấy ở các lớp bên ngoài của hạt, được loại bỏ bằng quá trình đánh bóng, hoặc "tẩy trắng" trong khi gạo đồ rất giàu các vitamin này do quá trình đặc biệt của chúng [17].
XÂM NHẬP MẶN ẢNH HƯỞNG TỚI CÂY TRỒNG 1. Ảnh hưởng của mặn lên cây trồng Thực vật phát triển trong môi trường luôn biến đổi và thường xuyên phải đối mặt với các yếu tố bất lợi phi sinh học khác nhau, chẳng hạn như hạn hán, độ mặn cao, ngập lụt và nắng nóng. Mặn là một trong những yếu tố bất lợi phi 11 sinh học quan trọng nhất, ảnh hưởng đến hơn 20% diện tích đất canh tác, trong đó bao gồm một nửa diện tích là tưới tiêu và tỷ lệ này dự kiến sẽ tăng lên trong tương lai [18]. Sự tiếp xúc của thực vật với điều kiên môi trường bất lợi trong quá trình phát triển ảnh hưởng xấu đến sinh lý và thay đổi phát triển.
Độ mặn của đất, do nồng độ muối cao, có thể được coi là stress phổ biến nhất mà cây trồng phải đối mặt hiện nay. Tác động tiêu cực của stress mặn là làm giảm sự nảy mầm hạt, sự phát triển của cây con, và sự phát triển của lá, cũng như giảm diện tích quang hợp đã được ghi nhận ở các nghiên cứu trước. Ngoài ra, nồng độ K+ trong tế bào thực vật giảm mạnh khi thực vật bị stress mặn, dẫn đến mất cân bằng ion [19]. Sự chuyển dịch của muối vào rễ và chồi là kết quả thông lượng thoát hơi nước để duy trì nước trạng thái của cây và sự thoát hơi nước không được kiểm soát này có thể gây ra mức độ tích tụ ion độc hại trong chồi [19].
Phản ứng của thực vật với nồng độ muối rất phức tạp và dẫn đến những thay đổi về hình thái, sinh lý của chúng và trao đổi chất. Ảnh hưởng của mặn lên cây lúa 1.1 Ảnh hưởng của mặn đến sinh lý cây lúa Nguyên nhân chính gây hại cho cây lúa trong môi trường mặn là do sự hấp thụ ion Na+ quá mức dẫn đến độc tố ion và stress thẩm thấu. Sự thiếu hụt K+ và Ca2+ có thể dẫn đến tỷ lệ Na+/K+ cao, từ đó giảm xút sự hấp thu chất dinh dưỡng [20]. Sự ức chế hấp thu Ca2+ do Na+ gây ra làm giảm tốc độ tăng trưởng của chồi.
Trong nghiên cứu của Cha-um và cộng sự (2007), Alamgir và cộng sự (1999) đã báo cáo rằng stress mặn làm giảm các sắc tố quang hợp, bao gồm sự giảm nồng độ chất diệp lục, kèm theo các triệu chứng nhiễm độc Cl- và đó là những đặc điểm hình thái và sinh lý phổ biến của thực vật với stress mặn [21, 22]. Các gốc oxy hóa tự do (ROS) được tạo ra từ những phản ứng tkhi cây trồng đối mặt với stress mặn. Khi ROS được sản sinh quá mức, chúng sẽ phản ứng với các thành phần khác nhau của tế bào dẫn đến các tổn thương oxy hóa (tức là peroxy hóa lipid, oxy hóa protein, phân mảnh DNA, v.) trong tế bào. Thông thường, nếu hàm lượng ROS quá cao thì nên được loại bỏ một cách hiệu quả để duy trì tăng trưởng tối ưu.
Do đó thực vật được trang bị một loạt các hợp chất hoặc enzyme chống oxy hóa để loại bỏ các gốc ROS có hại [23].2 Ảnh hưởng của stress mặn đến hình thái cây lúa Chiều cao cây là một thông số hình thái cơ bản mà trong bất kỳ điều kiện căng thẳng phi sinh học và/hoặc sinh học nào cũng trải qua những thay đổi, điều này cho thấy sự chuyển biến hình thái trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng (Xem hình 1.