Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 1. Cơ sở lý luận Bệnh hại cây trồng luôn là vấn đề nan giải đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lạc nói riêng.
Mỗi loại cây trồng có rất nhiều loại bệnh khác nhau, tác nhân gây bệnh cũng vô cùng đa dạng và phong phú, mỗi giai đoạn sinh trưởng của cây trồng khác nhau thì đặc điểm của tác nhân gây bệnh cũng khác nhau. Đối với cây lạc bệnh hại sẽ làm giảm sức sống và chất lượng hạt giống, giảm năng suất, phẩm chất lạc khi thu hoạch, cất trữ. Chủ yếu làm giảm giá trị sử dụng, giá trị hàng hóa, thẩm mỹ và chất lượng chế biến. Ngoài ra, bệnh còn ảnh hưởng đến đất đai trồng trọt, cơ cấu giống cây trồng, chế độ luân canh, tính chất hoạt động của các vi sinh vật đất.
Hiện nay, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng công tác phòng trừ sinh học bằng việc sử dụng các chủng vi khuẩn có ích Bacillus đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa vào sản xuất nhiều loại chế phẩm. Tuy nhiên hiệu quả trong lĩnh vực phòng chống bệnh hại còn nhiều hạn chế, chưa được nhiều nông dân chấp nhận, kể cả phòng trừ bệnh trên đồng ruộng cũng như việc xử lý hạt giống trước khi gieo trồng, vì phải phụ thuộc nhiều yếu tố như: kỹ thuật thâm canh, tiểu vùng khí hậu, giống cây trồng, nhiệt độ, thời vụ canh tác và chính bản thân của chế phẩm… Do đó, việc nghiên cứu sản xuất các chế phẩm vi sinh vừa có khả năng kích thích sinh trưởng vừa có khả năng phòng trừ bệnh hại cây trồng (khả năng hạn chế bệnh cao – khoảng hơn 60%) là rất cần thiết và cấp bách, sản phẩm không những chỉ hạn chế bệnh hại mà còn mang lại lợi ích kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường sâu sắc. Xuất phát từ những vấn đề trên, để góp phần vào việc phòng trừ bệnh hại lạc an toàn, hiệu quả, đồng thời nâng cao năng suất và phẩm chất lạc, chúng tôi tiến hành nghiên cứu sử dụng một số chủng vi khuẩn có ích Bacillus để phòng trừ một số loại bệnh hại chính trên lạc. Cơ sở thực tiễn Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, cây lạc là cây trồng có giá trị kinh tế cao trên một đơn vị diện tích canh tác.
Lạc có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, ngoài cho sản phẩm là hạt, lạc còn góp phần quan trọng trong việc cải tạo đất và làm thức ăn cho gia súc. Do vậy, phát triển trồng lạc không chỉ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng mà còn nâng cao thu nhập cho người sản xuất. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Tuy nhiên, thực tế trồng lạc ở các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn, do sự xuất hiện nhiều loại bệnh hại. Bệnh có thể phát sinh gây hại trên cây lạc từ lúc gieo hạt giống xuống đất cho đến khi thu hoạch, chúng có thể làm chết cây dẫn đến làm giảm mật độ cây trên ruộng.
Bệnh tăng rất nhanh ở những vùng trồng lạc truyền thống và trồng liên tục từ năm này sang năm khác. Một trong những tồn tại lớn của sản xuất nông nghiệp nói chung và trồng lạc nói riêng là việc sử dụng quá nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học. Tình trạng này nếu cứ tiếp diễn sẽ đi ngược lại mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp bền vững mà chúng ta đang nỗ lực hướng đến. Thực tế cho thấy, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hoá học đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái, hệ vi sinh vật đối kháng và côn trùng có ích; đồng thời quá trình tăng cường sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hoá học đã và sẽ tạo ra những chủng, nòi vi sinh vật kháng thuốc.
Mặt khác có nhiều chủng sinh lý và nòi sinh học gây bệnh khác nhau và có thể làm giảm khả năng chống chịu bệnh của các loại cây trồng. Ngày nay, các biện pháp phòng trừ bằng biện pháp sinh học đang thu hút được sự quan tâm của nhiều phòng thí nghiệm trong và ngoài nước vì nó ít gây độc hại và đảm bảo cân bằng sinh thái; có thể kể đến một số các chế phẩm sau: virus gây bệnh cho côn trùng, vi khuẩn gây bệnh cho côn trùng và chuột, vi sinh vật đối kháng, như chế phẩm Bt. để trừ sâu tơ, sâu xanh hại rau hoặc chế phẩm Biorat để gây bệnh đường ruột cho chuột. Ngoài việc ứng dụng các vi sinh vật gây bệnh cho côn trùng và dịch hại như trên, người ta đã nghiên cứu tìm ra các loài nấm, các loài vi khuẩn, các loài virus đối kháng với các vi sinh vật gây bệnh hoặc cỏ dại, như: sử dụng nấm Penicillium (các loài oxalicum, frequentans, vermiculatum, nigricans, chrysogetum) để đối kháng với các nấm Pythium spp.
Rhizoctonia solani, Sclerotium cepivorum, Vertcillium alboatrum; sử dụng vi khuẩn Steptomyces griseoviridae để đối kháng với bệnh nấm Fusarium. Kết quả cho thấy nhiều hứa hẹn và đây cũng sẽ là biện pháp rất cần thiết để thay thế các loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học trong tương lai. Trên cơ sở đó, tôi thực hiện đề tài này nhằm tìm ra một cách giải quyết mới cho một số bệnh ở lạc đem lại năng suất cao cho sản xuất lạc, góp phần phát triển bền vững cây lạc. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 1.
Giới thiệu chung về cây lạc 1. Nguồn gốc và sự phân bố Cây lạc có tên khoa học là Arachis hypogaea, thuộc họ Leguminiseae, họ phụ Papilionaceae, giống Arachis. Là cây hằng niên, thích hợp với vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [29]. Lạc là cây công nghiệp, cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao.
Được trồng ở hàng trăm nước trên thế giới và được coi là cây trồng chủ yếu của nhiều nước, lạc được xếp thứ 13 trong các cây thực phẩm, xếp thứ 4 về nguồn dầu thực vật và thứ 3 về cây trồng cung cấp protein [16]. Nguồn gốc, sự tiến hoá và quá trình phân loại của cây lạc đến nay vẫn chưa được khẳng định. Qua nhiều thập kỷ, dựa vào tài liệu của các nhà sử học, tự nhiên học, khảo cổ học và ngôn ngữ học người ta cho rằng cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ và được trồng vào khoảng những năm 2.500 trước Công nguyên. Lạc được mang đến Châu Phi, Châu Âu và Châu Á vào những năm cuối thế kỷ XVII bởi người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha [24] [27].
Cây lạc hiện tại được trồng từ 400 vĩ Bắc đến 400 vĩ Nam, thuộc vùng nhiệt đới và các vùng ấm áp trên thế giới. Tuy nhiên sự phân bố về diện tích, năng suất, sản lượng lại tập trung không đều giữa các khu vực trồng lạc khác nhau trên thế giới, tập trung chủ yếu ở ba châu lục là châu Á, châu Phi và châu Mỹ [9]. - Nguồn gốc địa lý: Cây lạc du nhập vào Việt Nam từ khi nào thì đến nay chưa xác minh rõ, nhưng về mặt địa lý cây lạc có thể du nhập vào nước ta từ Indonesia là nơi chúng ta có nhiều mối quan hệ trong lịch sử trồng lúa nước, trồng dừa, trồng tre.Vì vậy có thể lạc từ các nước này vào Việt Nam, đồng thời cũng có thể từ Trung Quốc vào Việt Nam [4]. - Nguồn gốc thương mại và tôn giáo: Vào thế kỷ XVI người Châu Âu đã phát triển mạnh về thương mại và tôn giáo với các nước Châu Á.
Người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan đã đến Việt Nam buôn bán và truyền đạo ở miền Trung. Có thể vì lý do này mà hình thành nên vùng trồng lạc tập trung lớn hiện nay. Cùng với người châu Âu, người Trung Quốc cũng đã đưa lạc vào các tỉnh phía bắc mà hình thành nên vùng trồng lạc ở đồng bằng Bắc Bộ và trung du Bắc Bộ. Tuy nhiên người ta thấy rằng cây lạc được du nhập vào Việt Nam muộn hơn so với các nước ở Châu Á khác [11].
Ở Việt Nam cây lạc được trồng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau: Vùng trung du Bắc bộ, cây lạc được trồng chủ yếu trên đất bạc màu như ở Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc; vùng đồng bằng Bắc bộ thì trồng trên chân bãi ven sông, chân Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 đất màu hay chân đất màu – lúa; vùng Trung bộ như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh lạc được trồng trên đất cát ven biển là chính; vùng Nam bộ và vùng Tây Nguyên lạc được trồng trên đất cát, đất đỏ và đất đen; vùng Đông Nam bộ lạc được trồng chủ yếu trên các chân đất cát, đất đỏ và đất đen [28]. Đặc điểm thực vật học Rễ lạc thuộc loại rễ cọc bao gồm rễ chính và rễ bên. Khi cây lạc được 5 lá thật thì bộ rễ tương đối hoàn chỉnh. Bộ rễ có thể ăn sâu 18-30 cm và rộng khoảng 30-40 cm.
Sự phát triển của hệ rễ thời kỳ đầu rất nhanh rồi chậm dần vào các kỳ cuối. Trên rễ lạc có nhiều nốt sần, được tạo thành do vi khẩn Rhizobium sống cộng sinh với hệ rễ, do vậy cây lạc có khả năng cố định nitơ phân tử trong không khí thành đạm cung cấp cho cây và đất trồng [5] [20]. Thân cây lạc thuộc loại thân thảo ít gỗ. Thân chính của cây lạc thường chỉ cao khoảng 25 – 50 cm, lúc còn non thân lạc hình tròn và đặc, khi về già có hình gốc cạnh và rỗng.
Cây lạc phân cành ngay từ gốc. Cành cấp 1 được mọc từ gốc thường có nhiều hoa, cành cấp 2 mọc từ cành cấp 1 thường ít hoa hơn. Số cành/cây khác nhau tùy từng giống và có ảnh hưởng trực tiếp đến số hoa và quả trên cây [1] [10][12]. Lá lạc là loại lá kép lông chim chẵn, gồm hai đôi lá chét mọc đối nhau, hình trái xoan ngược.
Hai lá mầm có vai trò cung cấp chất dinh dưỡng cho cây ở giai đoạn đầu. Hai lá kèm hình mũi mác có nhiệm vụ bảo vệ mầm, lá thật có màu xanh thẫm và nhọn ở đầu. Diện tích lá đạt tối đa ở thời kỳ hình thành quả và hạt nhưng lại giảm nhanh thời kỳ chín. Khi hoa tắt thì lá không mọc thêm nữa [12] [25].
Hoa lạc mọc ở nách lá thành chùm 3 - 5 hoa/chùm. Hoa lạc là hoa lưỡng tính, có màu vàng, không có cuống, gồm 5 thành phần: đài hoa, cánh hoa, lá bắc, bộ nhụy và nhị.