Đặt vấn đề Nước ta là một nước có nền nông nghiệp lâu đời và phát triển, các van đề về nghiên cứu hệ vi sinh trên thực vật là quan trọng, đặc biệt là các nghiên cứu làm giảm các bệnh trên cây ăn quả từ vi sinh vật gây hại là van dé quan trọng và có ý nghĩa lâu dài. Da có nhiều nghiên cứu trên thế giới về ứng dụng nam men cây ăn quả dé đối kháng vi sinh vật gây bệnh khác, nhưng nước ta vẫn chưa có nhiều nghiên cứu cụ thé nào, đặc biệt với cây xoài. Xoài là một giống thực vật thuộc Đào lộn hột (Anacardiaceae). Cây xoài được biết đến là loài cây sống ở vùng nhiệt đới có nguồn gốc xuất xứ từ miền Đông An Độ, và các vùng giáp ranh như Mién Điện, Thái Lan, Malaysia.
Chúng chứa một nguồn dinh dưỡng rất đồi dào nên được con người tiêu thụ rất nhiều. Chính vì vậy mà lượng xoài được trồng cũng như tiêu thụ trong nước và xuất khẩu chiếm ưu thé rất cao. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2021, xoài là một trong những loại trái cây nhiệt đới phổ biến được trồng tại Việt Nam, chỉ đứng sau chuối. Việt Nam là nước sản xuất xoài lớn thứ 13 thé giới với tông diện tích trồng trong cả nước khoảng hơn 87.
Năm 2021, kim ngạch xuất khẩu xoài của Việt Nam hơn 180 triệu USD, chiếm hơn 1% tong xuất khẩu xoài thé giới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặt mục tiêu đến năm 2030, cả nước có khoảng 140.000 ha xoài, sản lượng 1,5 triệu tan, kim ngạch xuất khâu nâng lên 650 triệu USD. Càng chứng tỏ rằng xoài là cây ăn quả quan trọng ở nước ta. Mặc dù sản lượng mặt xoài khá nhiều nhưng chúng có nhiều khó khăn trong việc bảo quản do các tác nhân gây bệnh làm chúng nhanh bị thối hỏng dẫn đến thiệt hại về kinh tế khá cao mà trong đó điển hình nhất là bệnh đốm đen vi do vi khuẩn Xanthomonas campestris gây ra. Trên trái, vết bệnh là những cham nhỏ màu nâu den hoặc những vết nứt dọc hình chân chim, chung quanh có quang vàng, từ vết nứt mủ xì ra mang theo vi khuẩn tràn ra ngoài.
Trái bị bệnh thường thối từng mãng và rụng từ đó làm cho lượng xoài giảm đáng kể. Chính vì thế mà đề tài “Phân lập và đánh giá khả năng đối kháng vi khuẩn Xanthomonas campestris của nam men có trong vỏ xoài Đài Loan sau thu hoạch ” được thực hiện. Đề từ đó đưa ra được những phương pháp ưu thế trong việc bảo quản mà không ảnh hưởng đến chất lượng xoài cũng như những bước tiến đột phá trong việc bảo quản nông sản trước các tác nhân xâm hại hay tronng quá trình vận chuyền. Mục tiêu chung của đề tài: Phân lập và định danh được loải nắm men trên vỏ xoài Đài Loan Đánh giá khả năng đối kháng với vi sinh khuẩn Xanthomonnas campestris gây bệnh đốm đen trên xoài sau thu hoạch.
Nội dung thực hiện Nội dung 1: Phân lập được những dòng nam men có trên vỏ xoài Dai Loan dua vào đặc điểm hình thái học và các phản ứng sinh hóa. Nội dung 2: Phân lập vi khuẩn Xanthomonas campestris gây bệnh dém đen trên xoài dựa vào đặc điểm thái và bằng các phản ứng sinh hóa. Nội dung 3: Khảo sát và đánh giá khả năng đối kháng của nắm men phân lập được với dong vi khuân Xanthomonas campestris. TÔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Khái quát về nắm men Nam men là nhóm vi sinh vật gần gũi với loài người từ xưa đến nay. Các sản phẩm của chúng, như rượu, bia, rượu vang và nhiều dạng đồ uống khác ngày càng nhiều và dường như chưa bao giờ đáp ứng đủ nhu cầu của con người. Ngoài ra, tế bao nắm men rất giàu Protein được coi là nguồn protein âm bao (SCP) rat qui giá. Hiện nay nguồn nay đang là nguồn dinh dưỡng gián tiếp qua chăn nuôi tới con người.
Hy vọng rằng trong thời gian không xa nguồn prétéin tinh sạch tách từ nắm men sẽ cho chúng ta những món ăn nhân tạo giống như các sản phẩm thịt, cá, trứng. Làm cho ngành này ngay càng phát triển. Nam men là thành viên phô biến của hệ sinh thái nam và hiện tại có khoảng 1500 loài được công nhận, chúng phân bố giữa Ascomycetes và Basidiomycetes. Việc xác định chính xác các loài là điều cần thiết dé hiểu các tương tác trong hệ sinh thái.
Các phương pháp nhận dạng truyền thống, dựa trên kiểu hình, thường không chính xác dẫn đến những diễn giải không chắc chắn về tương tác giữa các loài. Ngoài ra, có lẽ chỉ 1% của tất cả các loài sống được mô tả rất nhiều đa dạng sinh học và hệ sinh thái nắm men hiện nay vẫn chưa được biết (Kurtzman, 1998). Nắm men là nhóm nắm co thé đơn bào hoặc tập hợp đơn bào, nhân chuẩn, hién vi và thường sinh sản vô tinh theo hình thức nay chồi. Nam men không thuộc về một phân loại nào nhất định chúng có thê thuộc về hai lớp nam: nhóm nắm túi tạo thành được gộp chung vào lớp nam túi (Ascomycetes) và nhóm nắm không tạo thành bào tử - lớp nam không hoàn thiện (Deutero-mecetes hoặc Fungi imperfect).
Nam men là sinh vật đơn bào hiển vi, tế bào cơ bản giống như ở động vật, thực vật. So sánh cấu tạo tế bao nắm men với vi khuẩn ta thấy có sự tiến hoá nhay vọt từ nhân sơ đến nhân chuẩn (Luong Đức Phẩm, 2006). Dựa trên sự phân loại của nắm men cho đến nay thì số lượng loài nắm men không ngừng tăng lên. Cùng với sự tiên hoá về nhân và cơ chế phân chia (nhân có màng, có các thé nhiễm sắc, phân bao có tơ.) ở cơ thé nhân chuẩn xuất hiện nhiều thé không thay ở thể nhân sơ, như ti thé, luc lap v.
Tế bao nắm men có thành phan và cau tạo phức tạp. Trong tê bào các câu tử - tiêu thê và có thê chia thành: các cơ quan nội bảo hay cơ quan tử của tê bảo và các chat chứa trong tê bào hay các thê vùi của tê bao (inclusion). Nam men là sinh vật vô dưỡng hóa học, vì chúng sử dụng các hợp chất hữu cơ làm nguồn năng lượng và không can ánh sáng mặt trời dé phát triển. Carbon được lấy chủ yếu từ đường hexose, chăng hạn như Glucose và Fructose, hoặc Disacarit như Sucrose và Maltose.
Một số loài có thể chuyền hóa đường Pentose như Ribose, rượu và axit hữu cơ (JA Barnett, 1975). Các loài nam men cần oxy dé hô hấp tế bào hiếu khí (hiếu khí bắt buộc) hoặc ky khí, nhưng cũng có các phương pháp sản xuất năng lượng hiếu khí (ky khí tùy tiện). Không giống như vi khuẩn, không có loài nắm men nào đã biết chỉ phát triển ky khí (ky khí bắt buộc). Hầu hết các loại nắm men phát triển tốt nhất trong môi trường pH trung tính hoặc hơi axit.
Nam men rất phố biến trong môi trường và thường được phân lập từ các nguyên liệu giàu đường. Các ví dụ bao gồm men xuất hiện tự nhiên trên vỏ trái cây và quả mong (chang han như nho, táo hoặc dao.) và dich tiết từ thực vật (chang hạn như nhựa cay hoặc xương rồng). Một số loại nắm men được tìm thấy trong đất và côn trùng. Nắm men từ đất và từ vỏ của trái cây và quả mọng đã được chứng minh là chiếm ưu thế trong quá trình phân hủy của nam trong quá trình thối rita của trái cây.
Chức năng sinh thái và đa dạng sinh học của nắm men tương đối chưa được biết đến so với các vi sinh vật khác. Nắm men, kế cả nấm Candida albicans, Rhodotorula rubra, T.orulopsis va Trichosporon cutaneum, đã được tim thay sống ở giữa các ngón chân của moi người như một phần của hệ thực vật trên da của họ. Nam men cũng có trong hệ thực vật đường ruột của động vật có vú và một số loài côn trùng và thậm chí môi trường biển sâu cũng chứa một loạt nâm men. Tuy nhiên bên cạnh những nam men có ích cũng không ít nam men có hại, chúng gây ra hiện tượng làm hư hỏng thực phẩm tươi sống hoặc thực phẩm chế biến.
Có khoảng 13 - 15 loài nắm men gây bệnh cho con người và động vật chăn nuôi. Đáng chú ý nhất là các loài Candida albicans, Cryptococcus neoforman (Lương Đức Pham, 2009). Lịch sử nghiên cứu Nam men có lẽ là một trong những sinh vật được thuần hóa sớm nhất. Các nhà khảo cô khi đào bới các tàn tích của Ai Cập đã tìm thấy những viên đá mài thời kỳ đầu và các lò nướng bánh mì lên men, cũng như các bức vẽ về các lò bánh mì và nhà máy bia 4.
Các bình được nghiên cứu từ một số địa điểm khảo cé ở Israel (có niên đại khoảng 5.500 năm trước), được cho là chứa đồ uống có cồn (bia và mật ong), được phát hiện có chứa các khuẩn lạc nắm men tồn tại qua hàng thiên niên kỷ, cung cấp bằng chứng sinh học trực tiếp đầu tiên về việc sử dụng nắm men trong các nền văn hóa ban đầu. Năm 1680, nhà tự nhiên học người Hà Lan Anton van Leeuwenhoek lần đầu tiên quan sát thay men bằng kính hiền vi, nhưng vào thời điểm đó, họ không coi chúng là sinh vật sống mà là cấu trúc hình cầu vì các nhà nghiên cứu nghi ngờ liệu men là tảo hay nam. Theo Schwann công nhận chúng là nam vào nam 1837. Đặc điểm hình thái và kích thước của nắm men Hình thái tế bào nắm men thường hay thay đổi tùy theo loài, ngoài ra còn phụ thuộc vào tuôi giống và điều kiện ngoại cảnh.
Nắm men thường có hình dang khác nhau như hình cầu, hình elip, hình trứng, hình bầu dục, hình quả chanh và một số hình dạng đặc biệt khác. Một số loài nắm men có tế bảo hình dài nối với nhau thành những dạng sợi gọi là khuẩn ty (Mycelium) hay khuẩn ty giả (Pseudo mycelium) thường hay gặp ở các giống Endomycopsis, Candida, Trichosporon. Tuy nhiên hình dang của chúng không 6n định, phụ thuộc vào tuổi của nam men và điều kiện nuôi cấy (Lương Đức Pham, 2009). Hình thái của một số loài nắm men.
(Nguồn: http:// voer.) Kích thước tế bào nam men: kích thước tế bao nam men thay đôi rat nhiều tùy theo từng giống, từng loài. Nói chung tế bao nam men thường có kích thước rat lớn gấp từ 5 - 10 lần tế bao vi khuẩn. Các loài nắm men đơn bào trong công nghiệp thường có kích thước trung bình: 3 - 5 x 5 - 10 wm. Kích thước cũng thay đôi, không đồng đều ở các loài khác nhau, ở các lứa tuổi khác nhau và điều kiện nuôi cây khác nhau (Lương Đức Phẩm, 2009).