Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tống quan về bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum 1.1 Sơ lược về vi khuẩn Ralstonia solanacearum Vi khuẩn Ralstonia solanacearum là vi khuẩn hình que, hai đầu hơi tròn, có lông roi ở một đầu, kích thước tế bao 0,5 — 1,5 um, nhuộm gram âm có 1 — 3 lông roi, hai đầu hoi tròn (Buddenhagen va ctv, 1964). Vi khuẩn thích hợp ở nhiệt độ 25 — 35°C, nhiệt độ tối đa là 41°C, nhiệt độ tối thấp 10°C, nhiệt độ gây chết là 55°C. Vi khuân phát triển trên phạm vi rộng pH = 6,8 — 7,2. Vi khuẩn t6n tại trong đất, nước, tàn dư thực vật, ký chủ phụ, hạt giống.
Chúng xâm nhập vào cây qua vết thương hoặc qua lỗ thở tự nhiên, vết nứt đầu rễ và đi chuyền vào trong bó mạch, sau đó phá bó mạch làm tắt nghẽn sự vận chuyển nước và chất dinh dưỡng gây ra bệnh héo xanh trên các cây họ cà, mạnh nhất khi cây đang trong giai đoạn phát triển.2 Triệu chứng gây hại của vi khuẩn Ralstonia solanacearum Một trong những bệnh nguy hiểm đối với nhiều loài cây trồng là bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum, đặc biệt là những cây họ cà, họ bau bi, họ đậu và nhiều loại cây trồng khác (Wicker va ctv, 2007). Bệnh phat sinh cả giai đoạn cây con và trưởng thành. Triệu chứng được biểu hiện ngay sau khi bệnh xâm nhập vào cây. Khi cây còn non toàn bộ lá héo rũ đột ngột và chết nhanh chóng.
Trên cây đã lớn thì héo đầu tiên ở các lá ngọn héo rũ có màu xanh tái, sau đó các lá phía dưới, các cảnh héo dần vào ban ngày và ban đêm có thé hồi phục, cây bị còi cọc, nhưng sau 2 - 5 ngày toàn cây héo hắn và chết (Agrios, 2005). Cat ngang đoạn thân cây gân gôc ta thay bó mạch bị hóa nâu, cho vào côc nước, thây có giọt dịch khuân màu trăng sữa tiệt ra. Trong điêu kiện âm độ cao thân cây bị 12 bệnh dân dân thôi mêm, ân gân miệng vêt cắt có dịch nhờn vi khuân tiệt ra, màu trăng sữa. Rê có màu nâu đen và thôi.
Vi khuẩn tôn tại trong đất, nước, tàn dư thực vật, ký chủ phụ, hạt giống (đậu phộng). Chúng xâm nhập vào cây qua vết thương hoặc qua lỗ thở tự nhiên, vết nứt đầu rễ và di chuyên vào trong bó mạch, sau đó phá bó mạch làm tắt nghẽn sự vận chuyên nước va chất dinh dưỡng gây ra bệnh héo xanh trên các cây họ cà, mạnh nhất khi cây đang trong giai đoạn phát triển (Lê Tương Té và Vũ Triệu Man, 1998).3 Đặc điểm phát sinh phát triển bệnh Bệnh phát triển nhanh và mạnh trong điều kiện nhiệt độ cao, mưa gid, phô biến trên đất cát pha, thịt nhẹ hoặc đất đã nhiễm vi khuân. Bệnh xuất hiện rõ khi nhiệt độ phải trên 20°C, nhiệt độ đất trên 14°C, 4m độ cao, tưới nhiều, tưới ngập rãnh là điều kiện tốt nhất cho bệnh xâm nhiễm, phát triển và lan truyền dé dang (Vũ Triệu Mân, 2007). Thời gian vi khuẩn tồn lưu trong đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố như âm độ, nhiệt độ, hóa lý đất.
Vi khuan có thé tồn lưu trong dat từ 5 — 6 năm, trong cơ thê ký chủ thực vật hoặc trong hạt giống có thể sống tới 7 tháng, còn nếu bám dính trên bề mặt hạt chỉ tồn tại 2 — 7 ngày (Vũ Triệu Man và Lê Lương Té, 1998). Vi khuẩn lan truyền chủ yếu bằng nguồn nước, đất như bám dính vào giày dép, dụng cụ canh tác. Bệnh héo xanh vi khuẩn phát sinh phát triển phụ thuộc vào điều kiện đất đai như trên các chân đất cao bệnh thường nặng hơn các chân đất thấp, đất được luân canh với lúa nước làm giảm tỉ lệ bệnh đáng ké (Đỗ Tan Dũng, 2001). Thời vụ trồng cũng là yếu tô quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển bệnh, thời vụ trồng có mưa nhiều, âm độ cao làm gia tăng sự phát sinh phát triển bệnh.
Phương pháp tưới cũng là điều kiện cần được quan tâm, do nước tưới là nguồn lây lan bệnh chủ yếu. Khi đã xâm nhập vào cây, chúng sinh sản rất nhanh khi vào bên trong làm bít các lỗ mạch, tiết ra độc tố làm các bó mạch hóa nâu, đen và gây ra hiện tượng héo do cây bị thiếu nước. Vi khuẩn có thé di chuyên ra bên ngoài môi trường đất khi gặp điều kiện thuận lợi, đó cũng là sự tương tác giữa rễ và đất, rễ bị 13 nhiễm vi khuẩn từ đất và đất bị nhiễm khuẩn khi chúng từ trong cây ra môi trường đất (Hồ Thanh Hoàng, 2005).4 Biện pháp phòng trừ Việc phòng trị bệnh héo xanh thường rất khó khăn do chúng có phạm vi ký chủ rộng, có khả năng lưu tồn rất hữu hiệu trong dat (Đỗ Tan Dũng, 2001). Luân canh cây trồng không phải ký chủ của vi khuẩn Ralstonia solanacearum là một trong những giải pháp quan trọng giúp giảm mật độ vi khuẩn trong đất và hạn chế tối đa nguồn bệnh từ các tàn dư thực vật ở vụ trước.
Xử lý và cải tạo đất bằng việc bón tăng cường phân chuồng, lưu huỳnh, canxi cũng đem lại những kết quả khác biệt nhau. Sử dụng gốc ghép có thể cung cấp mức độ kháng bệnh đáng ké trong khi rễ của cây kháng bệnh và cây man cảm đều bị bệnh xâm chiếm (Huynh Thị Tố Chi và ctv, 2018). Gieo hạt giống khoẻ, sạch bệnh nên xử lý hạt trước khi gieo bởi chế phẩm sinh học. Phòng trừ sinh học bởi các chế phẩm sinh học, chất kích kháng, chế phẩm thảo mộc.
Cần áp dụng các biện pháp canh tác và bón phân hợp lý (Jones và ctv, 2005) Biện pháp dùng thuốc bảo vệ thực vật được cho là ít có hiệu quả trong phòng chống vi khuân Ralstonia solanacearum do vi khuan này có nguồn gốc từ đất xâm nhiễm gây bệnh và sinh sản trong hệ thống mạch dẫn của cây.2 Tông quan ve vi khuan Erwinia carotovora 1. Sơ lượt về vi khuẩn Erwinia carotovora Vi khuẩn phân lập lần đầu tiên trên cả rốt có dạng hình gậy, nhuộm Gram âm, yếm khí. Tuy nhiên, theo nhiều tác gia, Erwinia caratovora là vi khuan ki khí tùy nghi nghĩa là chúng có thé sinh trưởng trong môi trường hiếm khi và yếm khí, có kha năng di động dạng hình gây ngắn, hai đầu hơi tròn, cơ thé có 3 — 14 roi dạng tiêm mao, thường tồn tại ở dạng đơn hoặc từng cặp, kích thước nhỏ, khoảng 0,8 — 3,2 x 0,5 — 0,8 pm (Vũ Triệu Man, 2007). Triệu chứng gây hại của vi khuan Erwinia carotovora Theo Lê Lương Té và Vũ Triệu Man (1999), hiện tượng thối hỏng là hậu 14 quả của quá trình phá vỡ cấu trúc mô tế bào của cây do tác động chủ yếu của các enzyme phân giải của vi khuẩn.
Toàn bộ thịt củ, quả bị thối biến thành một khối nhão, có mùi. Vết bệnh đầu tiên thường xuất hiện ở các cuống lá già phía dưới gần mặt đất, tạo thành những đốm mọng nước, sau đó thối và nhũn. Vết bệnh theo cuống lá phát triển lên phía trên làm cho cả lá bị vàng và thối nhũn. Các lá phía trên cũng có thé bị bệnh và cả cây bị thối.
Khi cây bị bệnh, các tế bào trở nên mềm, có nước và nhớt, có mùi lưu huỳnh. Giới hạn giữa vùng mô bệnh và mô khoẻ phân biệt rõ ràng. Lá ngoài cùng của cây bị héo rũ vào ban ngày đến ban đêm có thé phục hồi. Nếu bệnh tiếp tục phát triển thì lá không thé phuc hồi được, héo rũ cụp xuống.
Nếu nhiệt độ và 4m độ cao thì toàn bộ lá trên cây bị thối nhữn mau nâu. Trong mô bệnh ở lá cũng như ở thân cây chứa đầy chất dính màu vàng xám, đó là dịch vi khuẩn gây bệnh. Bộ phận mô cứng, dày như rễ và thân già hoá gỗ cũng có thé bị bệnh phá hại, vết bệnh màu nâu đen giới hạn trong phạm vi hẹp, không lan rộng và không thối nhữn điển hình.3 Đặc điểm phát sinh phát triển bệnh Erwinia cavotovora là là dạng vi khuẩn gây bệnh cơ hội có phổ ký chủ rất rộng và khả năng lây nhiễm rất mạnh khi ở môi trường cận nhiệt đới và ôn đới. Khả năng Erwinia spp.
phá hủy thành tế bào thực vật, làm vết bệnh lan rộng, mêm và phân rã là do tác động của các enzyme ngoại bào. Vi khuân xâm nhập vào cây thông qua con đường tự nhiên như khí không (stomata) và lỗ vỏ, thân, rễ (lenticles) hoặc thông qua vết thương gây ra bởi côn trùng, động vat ăn cỏ (herbivorus), g1ó. Chúng thường tổn tại trong hạt giống, nguyên liệu nông sản bị nhiễm bệnh, trong quá trình canh tác, lưu trữ bảo quản và trong đất nông nghiệp tự nhiên. Vi khuẩn này cũng được tìm thấy trong rễ của một số loại cỏ đại, cây trồng và nước tưới.
Côn trùng và gió đã tham gia vào sự lây lan của Erwinia spp., nông sản khi bị côn trùng tấn công hoặc bị ton thuong do tac nhan co hoc sé tao điều kiện tốt cho 15 vi khuẩn này xâm nhập gây bệnh, từ đó chúng sẽ lây nhiễm khắp nơi do đó côn trùng cũng là nguyên nhân trong việc gây ra các tác nhân gây bệnh thối nhữn. Quá trình lây nhiễm và phát triển của vi khuân gây thối nhiin được xác định bởi ba yếu tố: số lượng nguyên liệu, mật độ vi khuẩn gây bệnh và điều kiện môi trường. Nhiệt độ và độ âm là yếu tố quan trọng trong phát triển bệnh và làm ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh của vi khuẩn, trong đó độ âm được coi là yếu tố quyết định quan trọng nhất cho sự tăng trưởng và phát triển của vi khuẩn. Schober và Zadoks (1999) cho thấy nhiệt độ và nguồn nước trong quá trình sản xuất củ, quả sau thu hoạch và bảo quản là những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển và nhiễm trùng bởi vi khuẩn gây thối nhũn, nhiệt độ thích hop cho Erwinia spp.
Biện pháp phòng trừ Dé hạn chế tác hại của bệnh cần áp dụng triệt để các biện pháp phòng trừ tong hợp, trong đó việc phòng bệnh là chủ yếu (Lê Lương Té và Vũ Triệu Mẫn, 1998) theo đó: Trong giai đoạn vườn ươm: Cần gieo hạt đúng thời vụ, đất thoát nước tốt, bỏn chủ yếu là phân chuồng phân oai mục. Bón vôi khử trùng đất với lượng 40 — 50 kg/sao. Trong giai đoạn trồng ngoải ruộng san xuất chọn cây khỏe, không bị nhiễm bệnh, trồng đúng mật độ, khoảng cách, đúng tuổi cây. Bên cạnh đó, bón phân dé phòng trừ bệnh là yếu tố quyết định trong phòng trừ bệnh này.
Vì vậy bón phân hợp lý, bón theo phương châm nặng đầu nhẹ cuối, bón lót tất cả phân chuông, lân, kali, ure.