Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp xây dựng nông thôn mới tại một số xã ở huyện na hang tỉnh tuyên quang

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp xây dựng nông thôn mới tại một số xã ở huyện na hang, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Phát triển nông thôn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

124
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Xây dựng nông thôn mới tại huyện Na Hang Tuyên Quang

Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, việc thực hiện chương trình này đã mang lại những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết. Thực trạng nông thôn tại đây cho thấy sự thiếu hụt về cơ sở hạ tầng, đầu tư nông nghiệp, và hợp tác xã. Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, cần có những giải pháp phát triển nông thôn cụ thể và hiệu quả.

1.1. Thực trạng nông thôn tại huyện Na Hang

Thực trạng nông thôn tại huyện Na Hang cho thấy nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Cơ sở hạ tầng còn yếu kém, đặc biệt là hệ thống giao thông, thủy lợi và điện. Đầu tư nông nghiệp chưa đủ mạnh để thúc đẩy sản xuất. Hợp tác xã hoạt động chưa hiệu quả, dẫn đến sự thiếu liên kết giữa nông dân và thị trường. Những yếu tố này đã ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế địa phươngnâng cao đời sống người dân.

1.2. Giải pháp phát triển nông thôn mới

Để thúc đẩy xây dựng nông thôn mới tại huyện Na Hang, cần tập trung vào các giải pháp phát triển nông thôn như cải thiện cơ sở hạ tầng, tăng cường đầu tư nông nghiệp, và phát triển hợp tác xã. Việc bảo vệ môi trường cũng cần được chú trọng để đảm bảo phát triển bền vững. Ngoài ra, giáo dục và đào tạo cần được nâng cao để cung cấp kiến thức và kỹ năng cho người dân, giúp họ tham gia hiệu quả vào quá trình phát triển.

II. Phát triển kinh tế địa phương và bảo vệ môi trường

Phát triển kinh tế địa phương tại huyện Na Hang cần đi đôi với bảo vệ môi trường. Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên cần được quản lý chặt chẽ để tránh tác động tiêu cực đến môi trường. Du lịch nông thôn có thể là một hướng đi mới, giúp tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân đồng thời quảng bá văn hóa địa phương. Tuy nhiên, cần có kế hoạch phát triển du lịch bền vững để không làm ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên.

2.1. Phát triển kinh tế địa phương

Phát triển kinh tế địa phương tại huyện Na Hang cần tập trung vào các ngành nghề truyền thống như nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Việc đầu tư nông nghiệp cần được tăng cường để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, du lịch nông thôn cũng là một hướng đi tiềm năng, giúp tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân.

2.2. Bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế

Bảo vệ môi trường là yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế địa phương. Việc khai thác tài nguyên cần được quản lý chặt chẽ để tránh tác động tiêu cực đến môi trường. Các chương trình giáo dục và đào tạo về bảo vệ môi trường cần được triển khai rộng rãi để nâng cao nhận thức của người dân.

III. Nâng cao đời sống người dân và giáo dục

Nâng cao đời sống người dân là mục tiêu quan trọng của xây dựng nông thôn mới. Tại huyện Na Hang, việc cải thiện cơ sở hạ tầng, giáo dục và đào tạo sẽ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. Giáo dục và đào tạo cần được đầu tư để cung cấp kiến thức và kỹ năng cho người dân, giúp họ tham gia hiệu quả vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

3.1. Nâng cao đời sống người dân

Nâng cao đời sống người dân tại huyện Na Hang cần tập trung vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng, giáo dục và đào tạo. Việc đầu tư vào các dịch vụ y tế, giáo dục và văn hóa sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Ngoài ra, các chương trình hỗ trợ việc làm và tăng thu nhập cũng cần được triển khai.

3.2. Giáo dục và đào tạo trong phát triển nông thôn

Giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao đời sống người dân. Tại huyện Na Hang, việc đầu tư vào giáo dục sẽ giúp cung cấp kiến thức và kỹ năng cho người dân, giúp họ tham gia hiệu quả vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Các chương trình đào tạo nghề cũng cần được triển khai để tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp xây dựng nông thôn mới tại một số xã ở huyện na hang tỉnh tuyên quang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của xây dựng nông thôn mới 1. Đặc điểm nông nghiệp, nông thôn hiện nay Nông nghiệp là một ngành quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế. Kinh tế nông nghiệp và kinh tế nông thôn được nói đến như một nền kinh tế truyền thống, trong đó nông nghiệp là khu vực duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm để nuôi sống con người.

Dù trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật đến đâu thì ngày nay, sản phẩm nông nghiệp chưa có một ngành sản xuất nào thay thế được. Sự phát triển trong nông nghiệp thực sự là cơ sở quan trọng tạo tiền đề vật chất để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đại bộ phận nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo và làm thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng ngày càng văn minh, hiện đại hơn. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới các nước Đông Á và Đông Nam Á, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang đô thị hóa như Việt Nam, thì nông nghiệp vẫn được coi là yếu tố quan trọng trong việc xóa đói nghèo, tăng thu nhập cho nông dân. Hay nói cách khác, nông dân muốn thoát nghèo vẫn phải gắn với nông nghiệp.

Nước ta có khoảng 70% dân số là nông dân, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng trong các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam. Nhờ sự quan tâm của Nhà nước thể hiện bằng các chủ trương, chính sách đúng đắn, trong những năm đổi mới, nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu. Liên tục trong nhiều năm nông nghiệp đạt mức tăng trưởng khá cả về giá trị, sản lượng. Vì vậy, từ chỗ là một nước thường xuyên thiếu lương thực, hơn thập niên qua Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn đứng thứ 2 trên thế giới, (tính riêng năm 2012 toàn quốc đã xuất khẩu tới 7,72 triệu tấn) đồng thời bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Ngoài gạo, Việt Nam còn chiếm vị thế cao trong số các nước xuất khẩu về cà phê, cao su, hạt 5 điều. Giá trị xuất khẩu những mặt hàng nông sản khác như thủy sản, chế biến gỗ cũng ngày càng cao và trở thành các sản phẩm chủ lực trong cơ cấu xuất khẩu của đất nước. Cơ cấu nông nghiệp cũng chuyển dịch theo hướng tích cực, gia tăng sản phẩm có giá trị kinh tế, có lợi thế cạnh tranh. [9] Như vậy có thể thấy nhờ các chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân và nông thôn thời gian qua, đã cởi trói cho lực lượng sản xuất trong lĩnh vực này phát triển mạnh mẽ.

Tuy nhiên để phát triển nông - lâm- ngư nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn thì vấn để nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay còn đang đặt ra nhiều khó khăn, có thể kể ra một số thách thức cơ bản sau: (1) Thách thức lớn nhất của nông nghiệp hiện nay là khả năng cạnh tranh, năng suất, chất lượng của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam còn thấp. Sở dĩ như vậy do sản xuất nông nghiệp của Việt Nam vẫn chủ yếu là nhỏ lẻ, manh mún, việc ứng dụng khoa học công nghệ, cũng như phát triển công nghiệp chế biến nông sản chưa cao như những nước khác trong khu vực và trên thế giới. Mặc dù thời gian qua nhiều người đã hài lòng và tự hào rằng chúng ta tuy sản xuất nhỏ lẻ nhưng vẫn đạt được những thành tích lớn trong việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, lại có nhiều sản phẩm có số lượng xuất khẩu khá, chiếm vị thế cao trên thị trường quốc tế, song thực sự nếu muốn tiến lên sản xuất hàng hóa lớn, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp theo chủ trương của Đảng và Nhà nước thì kiểu sản xuất manh mún này chắc chắn không thể phù hợp. Bởi, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế cạnh tranh trên thị trường sẽ ngày càng quyết liệt, yêu cầu của người tiêu dùng đối với hàng nông sản ngày càng cao (như chất lượng tốt, giá rẻ, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ được môi trường sinh thái.

(2) Sự gắn kết giữa sản xuất và thị trường trong nông nghiệp còn rất yếu. Nhà nước đã có những chủ trương khuyến khích việc liên kết "4 nhà" 6 trong nông nghiệp nhằm giúp đỡ người nông dân yên tâm sản xuất. Nhưng, trong thực tế việc liên kết này còn rất lỏng lẻo, chưa đạt được kết quả như mong muốn và các "nhà” chưa thực sự giúp ích cho nông dân. "Nhà doanh nghiệp" được người nông dân trông đợi nhất trong việc tiêu thụ sản phẩm chẳng những chưa làm tốt vai trò của mình, mà lại là "nhà” bị coi hưởng lợi nhiều nhất trong quá trình liên kết, không bảo đảm sự công bằng lợi ích cho nông dân.

Do đó có thực tế trong nông nghiệp Việt Nam là khi được mùa nông dân không bán được hàng, bị Tiểu thương ép giá, lúc mất mùa, thiên tai, dịch bệnh thì không được gì. Ở hoàn cảnh nào nông dân cùng là người bị thua thiệt và vì vậy, luôn có tình trạng nông dân thường xuyên thay đổi cây trồng, vật nuôi, không yên tâm tích lũy kinh nghiệm, sản xuất ổn định lâu dài. (3) Mức độ giảm nghèo chung của Việt Nam tiến bộ liên tục. Tuy nhiên, xu hướng phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng, trong nội bộ khu vực nông thôn, và đặc biệt là giữa nông thôn với thành thị.

Nhiều chuyên gia đã đưa ra con số về chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn - thành thị lên tới trên 6,9 lần. (4) Một vấn đề nữa là người nông dân thiếu việc làm do bị mất đất do xu thế tích tụ ruộng đất ngay tại nông thôn và quá trình đô thị hóa và phát triển các khu công nghiệp hiện nay (20 năm qua, 300.000 héc-ta đất nông nghiệp bị mất đi do quá trình này). Điều này đã làm cho vấn đề thiếu việc làm tại nông thôn và xu hướng di dân ra thành phố để mưu sinh là không thể tránh khỏi. Song song với đó một sự thiếu hụt nữa ở khu vực nông thôn hiện nay là tri thức và thông tin khoa học hiện đại không được chuyển giao một cách có hệ thống.

Người nông dân thiếu kiến thức, nên khó chuyển giao được khoa học công nghệ để họ thực sự làm chủ. Điều này tiếp tục đặt họ và thế bất lợi hơn nữa. (5) Không chỉ vấn đề đất đai, áp lực về lao động trong nông nghiệp cũng ngày càng lớn. Thực tế, ở nhiều địa phương hiện nay tuy có số nông dân đông, nhưng hầu hết những người có sức khỏe đều rời quê ra các đô thị tìm việc kiếm sống.

Vì thế vào những ngày mùa cần nhiều lao động các vùng thôn quê rất 7 thiếu nhân lực, phải thuê với giá cao. Do đó vấn đề đặt ra tuy nông thôn thừa lao động, thiếu việc làm nhưng có khi lao động vẫn là sức ép đối với nông nghiệp. Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả, năng xuất lao động khu vực nông thôn còn thiếu hẳn lực lượng lao động có tay nghề, làm nông nghiệp giỏi. (6) Về vấn đề vốn, do sản xuất nhỏ lẻ nên nông dân rất thiếu vốn và dù được ngân hàng, hay các dự án cho vay để sản xuất thì mức tiền cũng rất thấp, thời gian hoàn trả ngắn.

Một số hộ gia đình khác tuy có thu nhập nhờ xuất khẩu thủy sản cà phê, cao su. hay được bồi thường đất đai xong lại chưa biết sử dụng đầu tư sản xuất mà chủ yếu mua sắm tiêu dùng. Trong khi đó, đầu tư của nước ngoài hầu như không đáng kể do những khó khăn về kết cấu hạ tầng, độ rủi ro cao của lĩnh vực đặc thù này. Còn các chương trình dự án của Nhà nước tuy khá nhiều, số vốn đầu tư không ít song hiệu quả lại rất thấp.

Khái niệm nông thôn mới Đã có một số diễn giải và phân tích về khái niệm thế nào là nông thôn mới. NTM trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là thị tứ; đó là NTM chứ không phải nông thôn truyền thống. Nếu so sánh giữa NTM và nông thôn truyền thống, thì NTM phải bao hàm cơ cấu và chức năng mớ [5]. Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg về Bộ tiêu chí quốc gia về NTM gồm 19 tiêu chí là: Tiêu chí về quy hoạch và thực hiện quy hoạch; tiêu chí về giao thông; tiêu chí về thủy lợi; tiêu chí về điện; tiêu chí trường học; tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa; tiêu chí chợ nông thôn; tiêu chí về bưu điện; tiêu chí về nhà ở dân cư; tiêu chí về y tế; tiêu chí về văn hóa; tiêu chí về môi trường; tiêu chí về hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh; tiêu chí về an ninh, trật tự xã hội.

- Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới quy định tại điều 3: Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể bổ sung thêm tiêu chí hoặc quy định mức đạt của 8 các tiêu chí cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương nhưng không được thấp hơn mức quy định trong Bộ tiêu chí quốc gia. Khái niệm xây dựng nông thôn mới Từ Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng chính phủ về ban hành bộ tiêu chí quốc gia về NTM và Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng chính phủ về Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 thì: Xây dựng NTM là xây dựng nông thôn đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM, là phát triển toàn diện về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh ở vùng nông thôn. Đơn vị nông thôn mới Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM, tại Khoản 3 Điều 23 quy định: Ban chỉ đạo NTM Trung Ương kiểm tra việc công nhận xã NTM ở các tỉnh để xét công nhận huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới cho các huyện có 75% số xã trong huyện đạt NTM và tỉnh có 75% số huyện trong tỉnh đạt NTM.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới tại huyện Na Hang, Tuyên Quang là một tài liệu chuyên sâu phân tích hiện trạng và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa bàn này. Tài liệu tập trung vào việc đánh giá các tiêu chí nông thôn mới, từ cơ sở hạ tầng, kinh tế đến văn hóa - xã hội, đồng thời đưa ra các khuyến nghị thiết thực để cải thiện chất lượng cuộc sống người dân. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến phát triển bền vững nông thôn.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn một số giải pháp tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn thị xã đông triều tỉnh quảng ninh, nghiên cứu về mô hình nông thôn mới kiểu mẫu. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường giải pháp huy động các nguồn lực phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện quế võ tỉnh bắc ninh cung cấp góc nhìn về việc huy động nguồn lực, một yếu tố then chốt trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Cuối cùng, Luận văn sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng mô hình nông thôn mới ở xã hải đường huyện hải hậu tỉnh nam định sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của cộng đồng trong quá trình này.