Chương I. Những vấn đề lý luận về quản lý Nhà nước về cư trú 1. Khái niệm quản lý Nhà nước Quản lý Nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước. Nói cách khác, quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thé mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật, tới các đối tượng quan lý nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.
Như vậy, tất cả các cơ quan nhà nước đều làm chức năng quản ly nhà nước. Pháp luật là phương tiện chủ yếu dé quản lý nhà nước. Bằng pháp luật, nhà nước có thé trao quyền cho các t6 chức hoặc các cá nhân để họ thay mặt nhà nước tiễn hành hoạt động quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp là quản lý hành chính nhà nước.
Quản lý hành chính nhà nước là một hình thức hoạt động của Nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tô chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hoá- xã hội và hành chính - chính trị. Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành- điều hành của nhà nước. Tính chất chấp hành thể hiện ở mục đích của quản lý hành chính nhà nước là đảm bảo thực hiện trên thực tế các văn bản pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước. - Mọi hoạt động quản ly hành chính nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật.
Tính chất điều hành của quản lý hành chính nhà nước thé hiện ở chỗ dé dam bảo cho các văn bản pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện trên thực tế, các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước phải tiến hành hoạt động tô chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyên. Trong quá trình điều hành, cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước ban hành ra các văn bản pháp luật dé đặt ra các quy phạm pháp luật hay các mệnh lệnh cụ thể bắt buộc các đối tượng quản lý có liên quan phải thực hiện. Như vậy các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước dé tô chức và điều khiển hoạt động của các đối tượng quản lý, qua đó thể hiện một cách rõ nét mối quan hệ “quyền lực- phục tùng” giữa chủ thể quản lý và các đối tượng quản lý. Hoạt động điều hành là một nội dung cơ bản của hoạt động chấp hành quyền lực nhà nước, nó gắn với hoạt động chấp hành và cùng với hoạt động chấp hành tạo thành hai mặt thống nhất của quản lý hành chính nhà nước.
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được đặt dưới sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước nhưng vẫn mang tính chủ động, sáng tạo. Tính chủ động, sáng tạo của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thé hiện rõ nét trong quá trình các chủ thé của quan lý hành chính nhà nước đề ra chủ trương, biện pháp quản lý thích hợp đối với các đối tượng khác nhau, tạo điều kiện cho họ lựa chọn cách thức tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ trên cơ sở nghiên cứu, xem xét tình hình cụ thể. Tất cả các cơ quan nhà nước đều tiến hành hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng hoạt động này chủ yêu do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện. Hoạt động 6 này phản ánh chức năng cơ bản của các cơ quan hành chính nhà nước.
Mặt khác, không nên tuyệt đối hoá sự phân loại các hình thức hoạt động của các cơ quan nhà nước và không nên cho rằng mỗi loại cơ quan nhà nước chỉ có thể thực hiện một loại hành vi nhất định, tương ứng với hình thức hoạt động và chức năng cơ bản của nó. Trên thực tế mỗi loại cơ quan nhà nước, ngoài việc thực hiện những hành vi phản ánh thực chất của chức nâng cơ bản của mình, còn có thể thực hiện một số hành vi thuộc lĩnh vực hoạt động của cơ quan khác. Chủ thé của quản ly nhà nước là các tổ chức hay cá nhân mang quyền lực nhà nước trong quá trình tác động tới đối tượng quản lý. Chu thé quán lý nhà nước bao gồm: Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nước.
Khách thể của quản lý nhà nước là trật tự quản lý nhà nước. Trật tự quản lý nhà nước do pháp luật quy định. Chủ thể của quản lý hành chính nhà nước là các cơ quan nhà nước (chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước), các cán bộ nhà nước có thâm quyền, các tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền quán lý hành chính trong một số trường hợp cụ thé. Những chủ thé kê trên khi tham gia vào các quan hệ quản lý hành chính có quyền sử dụng quyền lực nhà nước để chỉ đạo các đối tượng quản ly thuộc quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý đồng thời bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước.
Khách thể của quản lý hành chính nhà nước là trật tự quản lý hành chính tức là trật tự quản lý trong lĩnh vực chấp hành - điều hành. Trật tự quản lý hành chính do các quy phạm pháp luật hành chính quy định. Khái niệm quản lý Nhà nước về cư trú 1. Cư tru Từ thời kì phong kiến, vấn đề cư trú đã được quan tâm nhằm phục vụ cho chính sách bình định, đánh thuế, đi dân và di lính.
Công dân khi đi ra khỏi địa bàn nơi họ sinh sống thường xuyên phải khai báo với chính quyên. Từ điển Hán Việt giải thích “Cư trú” là ở tại một chỗ nào trong một thời gian dài. Khái niệm cư trú gan liền với địa điểm, nơi diễn ra các hoạt động sinh sống thường xuyên, lâu dai của một con người hay còn gọi là nơi cư frú. Nơi cư trú thường xuyêncủa con người được xác định ve mat địa lý, trong phạm vi của một quốc gia, dân tộc, gắn với tư cách công dân của quốc gia đó.
Nghĩa của từ cư trú qua các giai đoạn gan với sự đa dạng trong hoạt động ở, nghỉ, di lại của công dân và trong góc độ pháp luật đã dẫn đến sự đa dang trong cách hiểu. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, “Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị tran dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú”. Việc cư trú của một con người gan liền với tư cách công dan của con nguoi với quốc gia nơi họ sinh sống, được xác định bằng việc nhà nước thông qua các cơ quan có thâm quyền thừa nhận việc người đó thực hiện việc đăng ký thường trú hoặc tạm trú. Việc được nhà nước thừa nhận nơi cư trú làm cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú.
Điều 23 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã quy định: “Công dân có quyên tự do đi lại và cư trú trong cá nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyên nay do pháp luật quy định”. Như vậy, quyền tự đo cư trú của công dân là một trong những quyên cơ bản được pháp luật thừa nhận mà theo đó, công dân có quyền tự do lựa chọn nơi cư trú phù hợp với điều kiện của bản thân. 7 Tóm lại, dưới góc độ pháp luật Việt Nam, cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn hoặc huyện đảo nơi chưa tô chức đơn vị hành chính cấp xã dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú có đăng ký với cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về cư trú.
Quản lý Nhà nước về cư trú Quan lý nhà nước về cư trú là một nội dung của quản lý hành chính nhà nước về an ninh trật tự, mang đầy đủ dấu hiệu đặc trưng của quan lý hành chính nhà nước và được thực hiện dựa vào văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước. Thông qua các quy định này để làm rõ xác định phạm vi đối tượng, nội dung yêu cầu, trình tự thủ tục hồ sơ, phương pháp tiến hành, việc phân công phan cấp trong dang ky va quan ly cư trú. Mục dich của việc quan lý cư trú chính là dé xác định rõ quyền và nghĩa vụ của công dân trong công tác đăng ký, quản lý cư trú đồng thời phục vụ yêu cầu quản lý xã hội của nhà nước và các yêu cầu khác của Ngành Công an trong phòng ngừa, phát hiện và dau tranh phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Như vậy, quản lý nhà nước về cư trú là biện pháp quản lý hành chính nhà nước được thực hiện thông qua việc điều hành và chấp hành của cơ quan Công an, các cơ quan nhà nước có thắm quyên trên cơ sở pháp luật về cư trú và công tác nghiệp vụ của ngành Công an nhằm bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân, góp phần phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Công dân có quyên tu đo di lại và cư trú trong cả nước, có quyên ra nước ngoài va từ nước ngoài vê nước. Việc thực hiện các quyên nay do pháp luật quy định ”. Để bao đảm việc thực hiện quy định pháp luật này, các co quan nhà nước được phân công trong phạm vi thâm quyền của mình phải thực hiện chức năng quản lý theo quy định và tuân thủ theo các quy định của nhà nước trong sự phân công phân cấp cụ thê. Nhà nước giao Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về cư trú.
Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của. mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước vé cư trú tại địa phương theo quy định của Luật Cư trú, các quy định khác của pháp luật có liên quan và theo sự phân cap của Chính phủ.