MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Rừng là tài nguyên quý giá của nhân loại, rừng giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội loài người. Rừng không chỉ là nơi cung cấp thức ăn, vật liệu xây dựng, thuốc chữa bệnh, tham gia vào quá trình giữ đất, giữ nước, điều hoà khí hậu, phòng hộ và bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn gen động, thực vật, bảo vệ đa dạng sinh học. Bên cạnh đó, rừng là nơi học tập, nghỉ mát, tham quan du lịch do đó rừng đóng góp vai trò rất quan trọng và góp phần đáng kể vào nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia. Rừng là tài nguyên quý báo của đất nước, có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị kinh tế đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân và sự sống của dân tộc.Từ xa xưa con người đã dựa vào rừng mà sống, rừng đã mang lại nhiều lợi ích cho con người, nhưng ngược lại con người quá lạm dụng những lợi ích đó và làm cho rừng ngày càng nghèo kiệt cả về số lượng và chất lượng, cháy rừng là một trong những thảm họa ảnh hưởng rất lớn đến tài nguyên rừng, tính mạng con người và môi trường sinh thái.
Xã Mường Lý là một xã vùng cao nằm ở phía Đông Bắc của Huyện Mường Lát, với diện tích tự nhiên là 8.97 ha; Trong đó: đất nông lâm nghiệp là 7830.87ha; đất phi nông nghiệp là 175.55ha và đất chưa sự dụng 392.55ha, đất có mặt nước ven biển 0.00; toàn xã có 15 thôn bản địa hình cơ bản là đồi núi đan xen tiếp giáp các khu vực thường xảy ra cháy rừng, kéo theo diễn biến thời tiết hết sức phức tạp mùa khô hanh khô, nắng nóng kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4-5 của năm sau, thường xuất hiện những đợt gió lào thổi mạnh, vì vậy luôn có nguy cơ tiềm ẩn cháy rừng cao. do vị trí địa lý và điều kiện khí hậu biến đổi của vùng trong những năm qua, công tác phòng cháy chữa cháy rừng luôn được chú trọng, được coi là một trong những nhiệm vụ trọng yếu. Tuy nhiên công tác này còn gặp rất nhiều khó khăn vì điều kiện địa hình phức tạp, đồi núi cao hiển trở, khí hậu nghiệt, trình độ dân trí thấp, kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, đốt nương rẫy bừa bãi, để tái diện tích đất canh tác nông nghiệp vì vậy h 2 cháy rừng vẫn thường xuyên xảy ra để góp phần hạn chế cháy rừng tôi tiến hành nghiên cứu đề tái “ Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp trong PCCCR tại xã Mường Lý, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa”, nhằm góp phần khác phục những tồn tại trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại địa phương cũng nhưng nâng cao hơn nữa công tác phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn. Mục tiêu nghiên cứu - Phân tích đánh giá được thực trạng phòng cháy chữa cháy rừng tại khu vực nghiên cứu - Đề xuất được các giải pháp có tính khả thi, hiệu quả xuất pháp kết quả nghiên cứu.
Ý nghĩa của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học - Đề tài nghiên cứu được một số thực trạng, các yếu tố về điều kiện tự nhiên, tháng khô, hạn, kiệt, cháy rừng, và các yếu tố kinh tế xã hội. - ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn - Đề tài còn là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại địa phương khác 3. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin thực tiễn quan trọng giúp cho các lãnh đạo địa phương quan tham khảo hoạch định kế hoạch PCCCR - Các giải pháp đề tài đưa ra giúp cho địa phương chủ rừng tham khảo áp dụng PCCCR cho địa phương và gia đình.
- Thực hiện xong đề tài bản thân được trải nghiệm thực tiễn, được tiếp súc với lãnh đạo địa phương, người dân kỹ năng làm việc được cải thiện và kiến thức thực tiễn được bổ sung trong lĩnh vực bảo vệ rừng nói chung và PCCCR nói riêng. h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 2. Trên thế giới Trước thảm hỏa do cháy rừng gây ra có rất nhiều nghiên cứu về phòng cháy chữa cháy rừng, dự báo nguy cơ cháy rừng được đưa ra.
Những công trình nghiên cứu của Mỹ, Nga,Thụy Điển… đã tập trung nghiên cứu về phòng cháy chữa cháy rừng. Các nghiên cứu chủ yếu hướng vào làm suy giảm 3 thành phần của tam giác lửa: ( 1 ) Giảm nguồn lửa bằng cách tuyên truyền vận động không mang lửa vào rừng, dập tắt than sau khi dùng lửa, làm các đường băng cản lửa… ( 2 ) Giảm khối lượng vật liệu cháy bằng cách đốt trước một phần vật liệu cháy, hoặc đốt đón đầu để cô lập đám cháy; ( 3 ) Giảm khả năng cung cấp oxi cho đám cháy bằng cách dùng chất dập cháy ( cát, nước, đất…) để ngăn vật liệu cháy tiếp xúc với oxi. Những phương tiện phòng cháy chữa cháy rừng được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây, đặc biệt là phương tiện dự báo và phát hiện sớm nguy cơ cháy rừng. Ở Mỹ từ những năm 1914 E.Show có những nghiên cứu và dự báo được khả năng cháy thông qua việc xác định độ ẩm của lớp thảm mục.
Các tác giả đã chỉ ra rằng độ ẩm lớp thảm mục thể hiện mức độ khô hạn của rừng. Độ khô hạn càng cao khả năng nguy cơ cháy rừng càng lớn, đây là một trong những công trình nghiên cứu khởi nguồn đầu tiên xác định yếu tố quan trọng nhất gây nguy cơ cháy rừng. Đến năm 1978 các nhà khoa học Mỹ đã đưa được hệ thống dự báo cháy rừng tương đối hoàn thiện. Theo hệ thống này có thể dự báo nguy cơ cháy rừng trên cơ sở phân ra các mô hình vật liệu cháy, kết hợp với các số liệu quan trắc khí tưởng và các số liệu về điều kiện địa hình người ta có thể dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng và mức độ nguy hiểm của các đám cháy nếu xảy ra.
Ở Nga cũng có nhiều công trình nghiên cứu về cháy trong đó phải kể đến là Nesterov ( 1939 ) nghiên cứu đi sâu vào các yếu tố khí tưởng thủy văn và các yếu tố khác ảnh hưởng đến khả năng xuất hiện cháy rừng đây là phương pháp dự báo cháy rừng tổng hợp được sử dụng nhiều nhất.Nesterov đã nghiên cứu mối tương quan giữa các yếu tố khí tượng gồm nhiệt độ lúc 13h, độ ẩm lúc 13h và lượng mưa ngày với tình hình cháy rừng trong khu vực và kết luận rằng: nơi nào có nhiệt độ không khí càng cao, độ ẩm không khí thấp, số ngày không mưa kéo dài thì vật liệu cháy càng khô và càng dễ phát sinh đám cháy. Trên cơ sở phân tích trên Nesterov đã đưa ra chỉ tiêu khí tượng tổng hợp để đánh mức độ nguy hiểm cháy rừng như sau: P= ∑𝑛𝑖=1 𝑡𝑖13 ∗ 𝑑𝑖13 (1.1) Trong đó: + P: chỉ tiêu tổng hợp phản ánh nguy cơ cháy rừng của một ngày nào đó + ti13: nhiệt độ không khí lúc 13h ngày thứ i (⁰C) + di13: độ chênh lệch báo hòa độ ẩm không khí tại thời điểm 13h ngày thứ i (mb) + n: số ngày không muaaw hoặc có mưa nhưng nhỏ hơn 3mm kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa lớn hơn 3mm. Từ chỉ tiêu p có thể xây dựng được các cấp dự báo mức độ nguyên hiểm cháy rừng cho từng địa phương khác nhau. Cơ sở của việc phân cấp cháy rừng dựa vào mối quan hệ giữa các chỉ tiêu p với số vụ cháy rừng ở địa phương đó trong nhiều năm liên tục.
Ở Việt Nam Những nghiên cứu về cháy rừng hiện nay còn rất ý, các hướng nghiên cứu chủ yếu theo hướng thử nghiệm và phân tích hiểu quả của giải phát đốt trước nhằm giảm khối lượng vật liệu cháy. Phó Đức Đỉnh (1996)[3]. thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới rừng thông non 2 tuổi ở Đà Lạt. Theo tác giả, ở rừng thông non thiết phải gom vật liệu cháy vào giữa các hàng cây hoặc nơi trống để đốt, chọn thời tiết để đốt để ngọn lửa cháy âm ỉ, không cao quá 0.5m, nếu cao quá có thể gây cháy tán cây.
Phan Thanh Ngọ thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới rừng thông 8 tuổi ở Đà Lạt. Theo tác giả với rừng thông lớn tuổi không cần phải gom vật liệu cháy mà trước khi đốt chỉ cần tuân thủ những nguyên tắc về chọn thời điểm và thời tiết thích hợp để đốt. Tác giả cũng cho rằng có thể áp dụng đốt trước vật liệu cháy cho một số trạng thái rừng ở địa phương khác[5]. h 5 Một số tác giả ( Lê Đăng Giảng 1972, Đặng Vũ Cẩn 1992, Phạm Ngọc Hưng 1994).
đề cập đến giải pháp xã hội trong phòng cháy chữa cháy rừng. Các tác giả này khẳng định việc tuyên truyền về tác hại của cháy rừng,quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy, hướng dẫn về phương pháp dự báo, xây dựng các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng, tổ chức lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng… sẽ là giải pháp xã hội quan trọng trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng [6]. Năm 1988, Phạm Ngọc Hưng đã áp dụng phương pháp của V.Nesterov trên cơ sở nghiên cứu cải tiến, điều chỉnh hệ số K theo lượng mưa ngày để tính toán và xây dựng phương pháp dựng báo cháy rừng cho đối tượng thông tỉnh Thanh Hóa, các chỉ tiêu được xác định như sau: Trên cơ sở sự dụng công thức chỉ tiêu tổng hợp của V.Nesterov theo rõi các chỉ tiêu của Thanh Hóa trong 10 năm ( 1975 – 1985) tác giả tính chỉ tiêu tổng hợp P cho từng ngày ở thanh hóa theo công thức như sau: P= 𝐾 ∑𝑛𝑖=1 𝑡𝑖13 ∗ 𝑑𝑖13 (1.2) Trong đó: P: chỉ tiêu tổng hợp đánh giá nguy cơ cháy rừng K: hệ số điều chỉnh theo lượng mưa, K có giá trị khi lượng mưa ngày nhỏ hơn 5mm, K có giá trị bằng 0 khi lượng mưa ngày vượt quá 5mm. Ti13: nhiệt độ không khí lúc 13h ngày thứ i (⁰C) di13: độ chênh lệch báo hòa độ ẩm không khí tại thời điểm 13h ngày thứ i (mb) n: số ngày không mưa hoặc có mưa nhưng nhỏ hơn 5mm kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa lớn hơn 5mm.
sau đó tác giả dựa vào kết quả phân tích mối quan hệ giữa chỉ tiêu P với số vụ cháy đã xảy ra trong 10 năm để chỉnh lý ngưỡng của các cấp dự báo cháy rừng ở Quảng Ninh [4], kết quả được ghi ở biểu 01 Bảng 2.