Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số 9229020) với đề tài "Thực trạng việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng" do nghiên cứu sinh Thạch Văn Việt thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Khắc Cường, hoàn thành vào năm 2022.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xác định Việt Nam là một quốc gia đa tộc người và đa ngôn ngữ. Bên cạnh tiếng Việt giữ vai trò ngôn ngữ quốc gia và phương tiện giao tiếp chung, tiếng Khmer là ngôn ngữ của một trong 54 tộc người, được sử dụng chủ yếu tại một số tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) như Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ. Tiếng Khmer đóng vai trò phương tiện duy trì các giá trị vật chất và tinh thần của cộng đồng Khmer qua các thế hệ. Tuy nhiên, dưới tác động của giao thoa, tiếp xúc ngôn ngữ và giáo dục song ngữ, tiếng Khmer đang tồn tại nhiều biến thể. Đáng chú ý, sự phát triển mạnh mẽ của tiếng Việt phổ thông tác động trực tiếp và sâu sắc đến khả năng lựa chọn ngôn ngữ của đồng bào Khmer: các thế hệ ông bà, cha mẹ có xu hướng dùng tiếng Khmer làm công cụ giao tiếp chủ yếu, trong khi thế hệ con cháu hiện nay có xu hướng chuyển sang sử dụng tiếng Việt nhiều hơn. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải khảo sát thực nghiệm có hệ thống nhằm đưa ra giải pháp bảo tồn và phát triển tiếng mẹ đẻ trong cộng đồng.
Mục đích nghiên cứu của công trình là cung cấp bức tranh chi tiết về thực trạng sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của đồng bào Khmer tại tỉnh Sóc Trăng trong giao tiếp chính thức và phi chính thức; tìm hiểu sự hành chức, thái độ ngôn ngữ, sự biến đổi của tiếng Khmer trong quá trình tiếp xúc với các ngôn ngữ khác; từ đó cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách dân tộc và chính sách giáo dục cho cộng đồng Khmer ở Sóc Trăng nói riêng và ĐBSCL nói chung.
Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khái quát những nội dung cơ bản về đặc điểm cảnh huống ngôn ngữ của vùng ĐBSCL và tỉnh Sóc Trăng, đặc điểm trạng thái song ngữ xã hội, thái độ ngôn ngữ, năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp và kỹ năng ngôn ngữ.
- Giới thiệu khái quát về địa bàn nghiên cứu, miêu tả những đặc điểm tự nhiên và xã hội, những đặc điểm cơ bản về người Khmer, văn hóa và ngôn ngữ Khmer.
- Khảo sát đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng thuộc phạm vi giao tiếp gia đình và xã hội trong hoàn cảnh giao tiếp phi chính thức; khảo sát đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong một số lĩnh vực thuộc hoàn cảnh giao tiếp chính thức.
- Mô tả và phân tích các hệ quả của quá trình sử dụng ngôn ngữ trong cộng đồng Khmer, đánh giá thực trạng việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Sóc Trăng, tập trung khảo sát kỹ tại 3 đơn vị hành chính cấp huyện có mật độ người Khmer đông nhất gồm: huyện Mỹ Xuyên (xã Tham Đôn và xã Đại Tâm), huyện Trần Đề (xã Viên An và xã Tài Văn), thị xã Vĩnh Châu (xã Vĩnh Hải và phường 2); đồng thời tiến hành khảo sát sơ bộ tại các huyện Châu Thành, Thạnh Trị, Long Phú để đối chiếu dữ liệu.
- Phạm vi thời gian: Thực địa thu thập ngữ liệu được tiến hành từ tháng 7/2016 đến tháng 10/2019, có kết hợp sử dụng một số tư liệu đã công bố trước thời điểm này nhằm kiến giải các hiện tượng ngôn ngữ học xã hội.
- Đối tượng khảo sát: Gồm 2 nhóm: nhóm học sinh Khmer từ Trung học cơ sở đến Đại học sinh sống, học tập tại tỉnh Sóc Trăng; nhóm người Khmer thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau (nông dân, công nhân, thương nhân, ngư dân, giáo viên, cán bộ, công chức, sư sãi, acha, thợ may, người làm thuê).
- Phạm vi phong cách chức năng: Khảo sát cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trong tình huống giao tiếp chính thức (giáo dục, hành chính, văn hóa - nghệ thuật, truyền thông) lẫn tình huống giao tiếp phi chính thức (gia đình, xã hội thân mật, nơi công cộng).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại hệ thống tài liệu nghiên cứu về ngôn ngữ tộc người thiểu số tại Việt Nam theo các mảng đề tài chuyên biệt:
- Nhóm công trình giới thiệu tổng thể về ngôn ngữ các dân tộc thiểu số: Các nghiên cứu của Phạm Đức Dương (1978), Hoàng Tuệ (1981), Như Ý (1992), Trần Trí Dõi (1997).
- Nhóm nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ tại Việt Nam: Hoàng Văn Hành (2002), Lý Toàn Thắng – Nguyễn Văn Lợi (2002), Nguyễn Văn Khang (2003), Nguyễn Đức Tồn (chủ biên, 2016).
- Nhóm nghiên cứu về chữ viết của các tộc người thiểu số: Hoàng Văn Mãn (1959), Hoàng Tuệ (1985), Tạ Văn Thông (2002), Hà Văn Thư và Nguyễn Đức Hợp (1963).
- Nhóm khảo sát giáo dục song ngữ vùng tộc người thiểu số: Trần Trí Dõi (2003), Đinh Lê Thư (2005), Bùi Ngọc Diệp (1999).
- Nhóm nghiên cứu vấn đề sử dụng ngôn ngữ và giao tiếp trong xã hội đa ngữ: Nguyễn Văn Khang (2003), Nguyễn Thị Thanh Bình (2004), Nguyễn Hữu Hoành (2002), Tạ Văn Thông (2002), Vương Toàn (2002), Bùi Khánh Thế (2002, 2016).
- Nghiên cứu về các ngôn ngữ cụ thể và từ điển song ngữ: Tiếng Tày – Nùng (Hoàng Văn Ma, 2002; Lục Văn Pảo, 1970; Vương Toàn, 1986; Đặng Thanh Phương, 2001); tiếng Thái (Tòng Kim Ân, 1977; Hoàng Văn Ma, 1986; Trần Trí Dõi, 1998; Vi Bá Hùng – Phạm Văn Hảo – Hà Quang Năng, 2002); tiếng Bru – Vân Kiều (Hoàng Văn Ma – Tạ Văn Thông, 1998); tiếng Ka Tu (Nguyễn Hữu Hoành – Nguyễn Văn Lợi, 1998); tiếng Mường (Nguyễn Văn Tài, 1992; Nguyễn Văn Khang, 2002); tiếng Raglai (Nguyễn Văn Huệ); tiếng Stiêng (Lê Khắc Cường); các từ điển song ngữ của Tòng Kim Ân (1990), Hoàng Văn Ma – Lục Văn Pảo – Hoàng Chí (1971, 1984), Bùi Khánh Thế (1996), Phan Xuân Thành (1999), Nguyễn Văn Khang (2003).
Đối với tiếng Khmer và tình hình song ngữ Khmer – Việt:
- Các công trình nghiên cứu cấu trúc và phương diện sư phạm: Hơn 130 bài nghiên cứu trên tạp chí Mon-Khmer Studies, tạp chí JSEALS; công trình của Phan Ngọc, Thái Văn Chải, Nguyễn Văn Chiến, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Ch.Gotze-Sam, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Thị Huệ; các nghiên cứu sư phạm của Lâm És, Trần Chinh, Lâm Sai, Lâm Khu, Châu Ngọc Phước, Thái Chọt, Trần Thơ, Ngô Chân Lý, Trịnh Thới Cang, Sơn Song Sơn, Trần Thanh Pôn.
- Các công trình ngôn ngữ học xã hội và tiếp xúc ngôn ngữ: Nguyễn Thị Huệ (2008, 2010) nghiên cứu tình hình sử dụng ngôn ngữ và tiếp xúc ngôn ngữ Khmer – Việt tại Trà Vinh; Hồ Xuân Mai (2013) khảo sát năng lực song ngữ của học sinh Khmer ở Sóc Trăng và Trà Vinh; Huỳnh Thanh Thêm (2017) khảo sát tại thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang; Hoàng Quốc (2009, 2010, 2014, 2015, 2018) nghiên cứu song ngữ Việt – Hoa, thái độ ngôn ngữ của người Khmer và tình hình giao tiếp ngôn ngữ tại ĐBSCL; Trương Chí Hùng (2016) nghiên cứu người Khmer tại An Giang; Đinh Lư Giang – Ngô Phú Hải (2014) về từ điển học xã hội; Đinh Lư Giang (2011, 2019) nghiên cứu tình hình song ngữ Khmer – Việt tại ĐBSCL; Lâm Khu (chủ biên, 2014) nghiên cứu phương ngữ Khmer Sóc Trăng; Vũ Thị Minh Trang (2015) khảo sát câu đố, tục ngữ tiếp xúc Khmer – Việt.
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả nhận định: Các công trình đi trước phần lớn tiếp cận tiếng Khmer từ góc độ ngôn ngữ học tiếp xúc thuần túy (vay mượn từ vựng, biến đổi ngữ âm, đối chiếu văn hóa dân gian) hoặc khảo sát song ngữ trên diện rộng toàn vùng ĐBSCL. Một số luận án tập trung sâu vào song ngữ Việt – Hoa (Hoàng Quốc, 2009) hoặc tiếp xúc tiếng Khmer tại Trà Vinh (Nguyễn Thị Huệ, 2010) nhưng chưa khảo sát chi tiết hiện trạng sử dụng tiếng mẹ đẻ. Đề tài phương ngữ của Lâm Khu (2014) chủ yếu nghiên cứu cấu trúc ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Do đó, thực trạng sử dụng tiếng mẹ đẻ của đồng bào Khmer tại địa bàn tập trung đông dân cư Khmer nhất là tỉnh Sóc Trăng, đặc biệt là sự phân bổ chức năng giữa hai phạm vi giao tiếp chính thức và phi chính thức gắn liền với năng lực 4 kỹ năng ngôn ngữ, vẫn chưa được một công trình chuyên biệt nào khảo sát toàn diện. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cứ liệu thực nghiệm điều tra xã hội học ngôn ngữ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng trên các khung khái niệm chủ đạo của ngôn ngữ học xã hội:
- Khái niệm kỹ năng ngôn ngữ (language skill), năng lực ngôn ngữ (language competence) và hành vi ngôn ngữ (language performance): Tác giả tiếp thu phân định của Colin Barker và Nguyễn Đức Tồn, phân biệt song ngữ cá nhân và song ngữ xã hội; tiếp cận quan điểm của Noam Chomsky (1965) về năng lực ngữ pháp tiềm tàng và hành vi ngôn ngữ, đối chiếu với quan niệm của Dell Hymes về năng lực giao tiếp (communicative competence). Tác giả dẫn giải quan điểm của M.A.K. Halliday bác bỏ sự tách rời giữa hệ thống và sử dụng, khẳng định 3 siêu chức năng của ngôn ngữ người lớn gồm: chức năng tạo ý (ideational), chức năng giao tiếp liên nhân (interpersonal) và chức năng tạo văn bản (textual). Luận án cũng vận dụng mô hình năng lực giao tiếp 3 thành tố của Canale và Swain (1980, 1983) gồm năng lực ngữ pháp, năng lực ngôn ngữ xã hội và năng lực chiến lược; cùng khung năng lực ngôn ngữ của Bachman và Palmer (1996) gồm kiến thức ngôn ngữ và năng lực chiến lược siêu nhận thức.
- Khái niệm thái độ ngôn ngữ (language attitude): Dựa trên nghiên cứu của Hoàng Quốc (2009, 2014), thái độ ngôn ngữ phản ánh tình cảm tích cực hoặc tiêu cực đối với một ngôn ngữ, gồm 3 loại: thái độ trung thành ngôn ngữ (tích cực), thái độ tự ti ngôn ngữ (tiêu cực) và thái độ kỳ thị ngôn ngữ (tiêu cực).
- Cảnh huống ngôn ngữ (language setting) và song ngữ xã hội: Tiếp thu lý thuyết của Nguyễn Như Ý (1996), Mikhalchenko (với 4 nhân tố: dân tộc – nhân khẩu, ngôn ngữ học, vật chất, con người), Robert Hall và Nguyễn Đức Tồn (2016). Cảnh huống ngôn ngữ ĐBSCL và Sóc Trăng được xác định là trạng thái đa tộc người, đa ngữ (mô hình tam ngữ Việt – Khmer – Hoa). Tiếp thu quan điểm của Đinh Lư Giang (2011) về 7 môi trường song ngữ xã hội (gia đình/hàng xóm, giáo dục, hoạt động nghề nghiệp, giao tiếp chính quyền, văn hóa lễ hội, truyền thông đại chúng, văn bản tài liệu). Phân tích các hiện tượng nảy sinh trong tiếp xúc: trộn mã (code-mixing), chuyển mã (code-switching), chuyển di ngôn ngữ (language transfer - gồm chuyển di tích cực, tiêu cực, lựa chọn) và giao thoa ngôn ngữ (language interference).
- Khái niệm tiếng mẹ đẻ: Đối chiếu định nghĩa của UNESCO (1953, 1968) và Nguyễn Đức Tồn (2016) về ngôn ngữ thứ nhất, tiếng bản địa (vernacular) và ngôn ngữ tộc người.
- Đặc điểm bình diện ngôn ngữ của tiếng Khmer (dẫn theo Lâm És, 2002; Lâm Khu, 2014):
- Ngữ âm: Là chữ ghi âm, không dấu thanh; có đặc trưng phân chia hai hệ giọng "o" và "ô". Nguyên âm gồm giọng "o" (24 âm) và giọng "ô" (25 âm); phụ âm giọng "o" (15 âm) và giọng "ô" (18 âm). Hệ thống có 13 nguyên âm độc lập và các nguyên âm không độc lập (phụ thuộc phụ âm đầu). Về phụ âm có 33 phụ âm đầu và 16 phụ âm cuối (6 âm phát âm theo giọng "o", 10 âm theo giọng "ô").
- Từ vựng: Cấu tạo bằng phương thức ghép từ, phương thức phát sinh nội bộ (hài thanh, tượng hình, điệp âm) và phương thức vay mượn (từ Pali – Sanskrit, Pháp, Anh, Lào, Thái, Việt).
- Ngữ pháp: Sử dụng hệ thống phụ tố (tiền tố, trung tố; từ gốc Pali – Sanskrit có hậu tố); không biến hình từ; trật tự câu cơ bản theo mô hình S + V + O và dùng phương thức hư từ.
- Chính sách ngôn ngữ: Phân tích hệ thống văn bản pháp quy của Đảng và Nhà nước gồm các Hiến pháp (1946, 1960, 1992, 2013), Quyết định 153-CP (1969), Quyết định 53-CP (1980); các văn bản chuyên biệt đối với người Khmer như Chỉ thị 16-CT/TW (1978), Quyết định 633/QĐ (1980), Chỉ thị 17-CT/TW (1981), Chỉ thị 68-CT/TW (1991), Thông tư 01/TT (1997), Chỉ thị 14/2003/CT-TTg, Quyết định 26/2008/QĐ-TTg.
Về tiêu chí đánh giá năng lực tiếng Khmer, tác giả xác lập 3 tiêu chí:
- Tiêu chí 1: Xếp loại năng lực tổng thể theo 5 thang bậc: Thành thạo, Khá, Trung bình, Kém, Rất kém.
- Tiêu chí 2: Thang đo kỹ năng dựa trên khung 5 mức của Dreyfus, thiết kế riêng cho 2 nhóm đối tượng:
- Đối với tầng lớp Khmer khác: 1. Nghe – hiểu được; 2. Nói được; 3. Đọc hiểu được; 4. Viết được; 5. Mức độ thành thạo kết hợp.
- Đối với học sinh Khmer: 1. Nghe được, nói được; 2. Nghe được, không nói được; 3. Biết nói, biết chữ; 4. Biết nói, không biết chữ; 5. Đọc hiểu được.
- Tiêu chí 3: Phạm vi sử dụng của tiếng Khmer trong mối quan hệ phân bố chức năng với tiếng Việt.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp hai phương pháp chủ đạo:
- Phương pháp phân tích định lượng: Chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo giới tính (nam, nữ), lứa tuổi (4 nhóm: 10–30 tuổi, 31–45 tuổi, 46–60 tuổi, từ 61 tuổi trở lên), khu vực cư trú (huyện Trần Đề: xã Viên An, Tài Văn; huyện Mỹ Xuyên: xã Tham Đôn, Đại Tâm; thị xã Vĩnh Châu: xã Vĩnh Hải, phường 2), trình độ học vấn (Tiểu học, THCS, THPT, TCCN, CĐ, ĐH) và nghề nghiệp. Bảng hỏi khảo sát sau khi sàng lọc thu được 751 phiếu hợp lệ trên tổng số 770 phiếu phát ra. Số liệu được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS (Statistical Package for Social Science).
- Phương pháp ngôn ngữ học điền dã: Quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, thu âm ngữ liệu hội thoại tự nhiên, tổ chức tọa đàm, chụp ảnh và sao lưu tài liệu thành văn tại địa bàn. Ngoài ra, tác giả sử dụng các thủ pháp miêu tả, so sánh, phân tích và giải thích ngôn ngữ học xã hội.
| Nhóm đối tượng khảo sát |
Số phiếu phát ra |
Số phiếu hợp lệ đưa vào phân tích SPSS |
Địa bàn khảo sát chính |
| Tầng lớp Khmer khác (nông dân, công nhân, viên chức, sư sãi, buôn bán...) |
400 |
388 |
Huyện Mỹ Xuyên (Tham Đôn, Đại Tâm) Huyện Trần Đề (Viên An, Tài Văn) Thị xã Vĩnh Châu (Vĩnh Hải, Phường 2) |
| Học sinh Khmer (từ Trung học cơ sở đến Đại học) |
370 |
363 |
Huyện Châu Thành, Long Phú, Thạnh Trị, Mỹ Xuyên, Trần Đề, TX Vĩnh Châu |
| Tổng cộng |
770 |
751 |
Tỉnh Sóc Trăng |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và bức tranh thực tiễn làm nền tảng cho việc triển khai đề tài. Về mặt lý thuyết, chương làm rõ các khái niệm kỹ năng ngôn ngữ, năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, thái độ ngôn ngữ, cảnh huống ngôn ngữ và bản chất của hiện tượng song ngữ xã hội. Tác giả phân tích các quá trình tiếp xúc ngôn ngữ tại ĐBSCL dẫn đến các hiện tượng ngôn ngữ học xã hội cụ thể như trộn mã, chuyển mã, chuyển di ngôn ngữ và giao thoa ngôn ngữ. Chương này cũng phân tích đặc trưng loại hình và cấu trúc của tiếng Khmer ở bình diện ngữ âm (hệ thống giọng "o" và "ô", phụ âm đầu, phụ âm cuối), từ vựng (phương thức ghép, phát sinh nội bộ, từ mượn Pali – Sanskrit và tiếng Việt) và ngữ pháp (phụ tố, kết cấu SVO). Bên cạnh đó, hệ thống văn bản chính sách ngôn ngữ của Việt Nam từ năm 1930 đến Hiến pháp 2013 và các chỉ thị riêng cho vùng đồng bào Khmer Nam Bộ được rà soát chi tiết.
Về cơ sở thực tiễn, chương 1 miêu tả đặc điểm địa lý tự nhiên của tỉnh Sóc Trăng với bờ biển dài 72 km, hai cửa sông lớn (sông Hậu, sông Mỹ Thanh) và mạng lưới giao thông qua Quốc lộ 1A. Tác giả trình bày bức tranh phân bố dân cư, đặc điểm cư trú đan xen giữa người Kinh, người Khmer và người Hoa, đặc điểm kinh tế nông nghiệp – thủy hải sản, văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer và sự hành chức của tiếng Khmer ở bình diện xã hội trên địa bàn tỉnh.
Chương 2: Năng lực tiếng mẹ đẻ của người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng
Chương 2 trình bày kết quả phân tích thống kê định lượng và khảo sát thực địa về năng lực tiếng mẹ đẻ của người Khmer Sóc Trăng theo 3 tiêu chí đã xác lập. Tác giả phân tách dữ liệu thành hai nhóm đối tượng khảo sát: tầng lớp Khmer khác (388 mẫu) và học sinh Khmer (363 mẫu). Kết quả khảo sát cho thấy một bức tranh rõ rệt về sự chênh lệch giữa các kỹ năng ngôn ngữ:
- Đối với các tầng lớp Khmer khác: Năng lực nghe – hiểu và nói bằng tiếng Khmer chiếm tỷ lệ rất cao trong đời sống hàng ngày, đặc biệt ở nhóm tuổi trung niên (31–45 tuổi, 46–60 tuổi) và cao niên (từ 61 tuổi trở lên). Tuy nhiên, kỹ năng đọc và viết tiếng Khmer có sự suy giảm nghiêm trọng; tỷ lệ người biết đọc hiểu chữ Khmer thấp hơn nhiều so với kỹ năng khẩu ngữ, và tỷ lệ viết thành thạo chỉ tập trung ở nhóm người từng tu học tại chùa (sư sãi, acha) hoặc cán bộ chuyên trách công tác dân tộc.
- Đối với học sinh Khmer: Tỷ lệ nghe được và nói được tiếng Khmer vẫn duy trì, nhưng xuất hiện bộ phận học sinh chỉ dừng lại ở mức "nghe được nhưng không nói được" hoặc "biết nói nhưng không biết chữ". Khả năng đọc hiểu văn bản chữ Khmer của học sinh có sự cách biệt lớn so với khả năng đọc hiểu chữ Quốc ngữ (tiếng Việt).
- Nhận xét về năng lực song ngữ: So sánh mức độ thành thạo giữa tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt, tác giả chỉ ra tình trạng mất cân đối chức năng: người Khmer sử dụng tiếng Việt thành thạo trong hầu hết các kỹ năng học thuật và giao tiếp xã hội rộng, trong khi năng lực tiếng mẹ đẻ bị khuyết thiếu kỹ năng viết và đọc chuẩn mực, dẫn đến trạng thái bán song ngữ hoặc song ngữ mất cân bằng ở thế hệ trẻ.
Chương 3: Thực trạng sử dụng tiếng mẹ đẻ của người Khmer Sóc Trăng trong giao tiếp phi chính thức
Chương 3 đi sâu khảo sát các bối cảnh giao tiếp tự nhiên, gần gũi trong đời sống sinh hoạt thường nhật của cộng đồng:
- Giao tiếp gia đình: Tác giả phân loại thành gia đình thuần Khmer và gia đình hỗn hợp (hôn nhân xen cư giữa người Khmer với người Kinh hoặc người Hoa). Trong gia đình thuần Khmer, tiếng Khmer giữ vai trò ngôn ngữ giao tiếp chủ đạo giữa ông bà, cha mẹ với con cái. Tuy nhiên, trong quan hệ giữa anh chị em hoặc khi nói chuyện với con cháu nhỏ tuổi, tiếng Việt bắt đầu thâm nhập với tần suất ngày càng cao. Trong gia đình hỗn hợp, tiếng Việt chiếm ưu thế tuyệt đối, tiếng Khmer bị thu hẹp phạm vi sử dụng. Khi tiếp xúc với người thân trong phum sóc, tiếng Khmer được duy trì; nhưng khi tiếp khách là người tộc người khác, tiếng Việt trở thành phương tiện bắt buộc.
- Giao tiếp xã hội phi chính thức: Khảo sát ngôn ngữ của các tầng lớp cư dân khi đi chợ, giao dịch buôn bán nhỏ, gặp gỡ bạn bè nơi công cộng. Đối với học sinh Khmer, khi ra ngoài môi trường học đường, việc giao tiếp với bạn bè cùng trang lứa xuất hiện hiện tượng trộn mã (xen từ ngữ tiếng Việt vào cấu trúc câu tiếng Khmer) và chuyển mã linh hoạt tùy thuộc vào thành phần tham gia hội thoại.
- Giao tiếp tôn giáo và tín ngưỡng: Khi giao tiếp với sư sãi tại chùa Khmer, tiếng Khmer được sử dụng với thái độ tôn kính, giữ gìn phong cách trang trọng. Các trường hợp giao tiếp đặc biệt khác được khảo sát gồm: khi nói chuyện điện thoại (xuất hiện chuyển mã nhanh chóng giữa tiếng Khmer và tiếng Việt), khi hát ru (người lớn tuổi duy trì các bài dân ca Khmer nhưng thế hệ trẻ ít thuộc), và khi cúng bái, tế lễ trong các nghi lễ truyền thống gia đình và cộng đồng (ngôn ngữ nghi lễ Khmer được bảo tồn nguyên vẹn).
- Thái độ ngôn ngữ trong giao tiếp phi chính thức: Cộng đồng thể hiện thái độ trung thành ngôn ngữ cao, xem tiếng Khmer là biểu tượng cội nguồn dân tộc và cảm thấy gần gũi, gắn kết khi dùng tiếng mẹ đẻ; tuy nhiên, thái độ tự ti ngôn ngữ vẫn xuất hiện ở một bộ phận thanh niên khi giao tiếp bên ngoài phum sóc do hạn chế về vốn từ hiện đại.
Chương 4: Thực trạng sử dụng tiếng mẹ đẻ của người Khmer Sóc Trăng trong giao tiếp chính thức
Chương 4 phân tích sự hành chức của tiếng Khmer trong các lĩnh vực có tính quy thức và thể chế:
- Lĩnh vực giáo dục: Khảo sát việc sử dụng tiếng Khmer của học sinh trong hệ thống giáo dục quốc dân (các trường Tiểu học, THCS, THPT có dạy bộ môn tiếng Khmer) và hệ thống giáo dục đặc biệt (trường Phổ thông Dân tộc Nội trú, các lớp dạy chữ Khmer tại chùa trong dịp hè). Trong trường phổ thông, ngôn ngữ giảng dạy chính thức là tiếng Việt; tiếng Khmer chỉ đóng vai trò là một môn học với thời lượng hạn chế, tài liệu giảng dạy còn thiếu đồng bộ. Tại các lớp học chữ trong chùa, tiếng Khmer và chữ Pali được duy trì thông qua nỗ lực của các vị sư sãi và ban quản trị chùa.
- Lĩnh vực hành chính: Khảo sát tại các cơ quan công quyền, đặc biệt là Ban Dân tộc tỉnh Sóc Trăng và ủy ban nhân dân cấp xã vùng có đông đồng bào Khmer. Tiếng Việt là ngôn ngữ hành chính chính thức trong văn bản quy phạm, công văn và điều hành công việc. Tiếng Khmer chỉ được sử dụng ở dạng khẩu ngữ khi cán bộ tiếp xúc trực tiếp, giải quyết thủ tục hành chính cho người dân Khmer cao tuổi không biết tiếng Việt hoặc năng lực tiếng Việt hạn chế.
- Lĩnh vực truyền thông:
- Truyền thông báo chí: Phân tích việc phát hành Báo Sóc Trăng bản chữ Khmer, việc biên dịch tin tức từ tiếng Việt sang chữ Khmer, đánh giá đối tượng độc giả và mức độ tiếp nhận thực tế của cộng đồng.
- Truyền thông đại chúng: Khảo sát các chương trình phát thanh và truyền hình tiếng Khmer của Đài Phát thanh – Truyền hình Sóc Trăng. Đây là kênh tiếp cận thông tin quan trọng giúp người dân tiếp xúc với ngôn ngữ Khmer chuẩn mực và giữ gìn tiếng nói dân tộc.
- Hoạt động văn hóa – nghệ thuật: Khảo sát việc sử dụng tiếng mẹ đẻ trong các lễ hội truyền thống (Chôl Chnăm Thmây, Sene Dolta, Oóc Om Bóc – đua ghe Ngo), nghệ thuật sân khấu Dù Kê, Rô Băm, ca múa nhạc dân gian. Tiếng Khmer giữ vị trí trung tâm trong việc biểu đạt các giá trị nghệ thuật dân gian.
- Thái độ ngôn ngữ trong giao tiếp chính thức: Đa số người Khmer đồng tình với việc sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ hành chính quốc gia, đồng thời bày tỏ nguyện vọng thiết tha Nhà nước tăng cường mở rộng dạy chữ Khmer trong trường học, nâng cao chất lượng phát thanh – truyền hình tiếng Khmer để bảo tồn văn hóa chữ viết dân tộc.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đóng góp nguồn cứ liệu thực nghiệm đáng tin cậy về tình hình sử dụng ngôn ngữ của một tộc người thiểu số tại vùng Tây Nam Bộ, góp phần làm sáng tỏ lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và ngôn ngữ học xã hội trong điều kiện đa tộc người tại Việt Nam. Công trình minh chứng cụ thể cho các quy luật về sự biến đổi trạng thái song ngữ, cơ chế chuyển mã, trộn mã và chuyển di ngôn ngữ trong điều kiện một ngôn ngữ thiểu số tiếp xúc trực tiếp với ngôn ngữ quốc gia chiếm vị thế đa số.
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp một bức tranh toàn diện, cập nhật về thực trạng năng lực và phạm vi sử dụng tiếng mẹ đẻ của đồng bào Khmer tỉnh Sóc Trăng thông qua số liệu định lượng xử lý bằng SPSS và cứ liệu điền dã sâu. Công trình chỉ ra nguy cơ mai một kỹ năng đọc – viết chữ Khmer ở thế hệ trẻ và sự suy giảm phạm vi giao tiếp tự nhiên của tiếng Khmer trước sự lấn át của tiếng Việt.
Về kiến nghị và giải pháp, từ kết quả nghiên cứu thực địa, luận án đề xuất các giải pháp mang tính ứng dụng:
- Hoàn thiện chính sách giáo dục song ngữ: Nâng cao chất lượng dạy và học chữ Khmer trong hệ thống giáo dục quốc dân; cải tiến chương trình, biên soạn sách giáo khoa chuẩn hóa; đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên song ngữ Khmer – Việt.
- Hỗ trợ giáo dục tôn giáo: Tăng cường cơ chế hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất cho các chùa Phật giáo Nam tông Khmer trong việc tổ chức các lớp dạy chữ Khmer và tiếng Pali cho con em đồng bào dịp hè; ghi nhận vai trò của sư sãi trong việc duy trì văn hóa chữ viết.
- Nâng cao hiệu quả truyền thông và hành chính: Đổi mới nội dung, hình thức các chương trình phát thanh – truyền hình tiếng Khmer; tăng cường xuất bản ấn phẩm song ngữ; bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp tiếng Khmer cho đội ngũ cán bộ, công chức công tác tại vùng đồng bào dân tộc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do nguồn lực và thời gian nghiên cứu thực địa (giai đoạn 2016–2019), luận án tập trung khảo sát chuyên sâu tại 3 địa bàn trọng điểm (Mỹ Xuyên, Trần Đề, Vĩnh Châu), các địa bàn khác của tỉnh Sóc Trăng (Châu Thành, Thạnh Trị, Long Phú) chỉ mới tiến hành khảo sát sơ bộ để đối chiếu số liệu. Mặt khác, nghiên cứu mới chỉ giới hạn trong phạm vi ranh giới tỉnh Sóc Trăng, chưa thể bao quát đối sánh toàn diện với các trung tâm cư trú Khmer khác tại miền Tây Nam Bộ như Trà Vinh, Kiên Giang hay An Giang.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, tác giả gợi mở việc mở rộng phạm vi điều tra liên tỉnh tại toàn vùng ĐBSCL để thiết lập bản đồ ngôn ngữ học xã hội về mức độ thụ đắc và sử dụng tiếng Khmer; đồng thời đi sâu nghiên cứu các biến đổi cấu trúc ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của phương ngữ Khmer Nam Bộ dưới ảnh hưởng giao thoa lâu dài với tiếng Việt đương đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học xã hội, Nhân học, Dân tộc học và Văn hóa học quan tâm đến tiếp xúc ngôn ngữ, chính sách ngôn ngữ và đời sống ngôn ngữ các tộc người thiểu số tại Việt Nam.
- Đội ngũ giảng viên, chuyên gia biên soạn chương trình và giáo trình tiếng Khmer tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm và các trường Phổ thông Dân tộc Nội trú khu vực ĐBSCL.
- Các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ (trước đây), Ban Dân tộc, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch các tỉnh vùng Tây Nam Bộ trong việc xây dựng kế hoạch bảo tồn văn hóa phi vật thể, hoàn thiện chính sách giáo dục ngôn ngữ dân tộc thiểu số.
- Phần đáng tham khảo nhất trong luận án là hệ thống 3 tiêu chí đánh giá năng lực ngôn ngữ mẹ đẻ, bộ bảng hỏi điều tra xã hội học ngôn ngữ (phụ lục gồm 3 bảng hỏi chi tiết) và các dữ liệu điền dã phân tích về 7 môi trường giao tiếp chính thức lẫn phi chính thức.
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu khảo sát định lượng của luận án được thực hiện với quy mô và cơ cấu như thế nào?
Luận án tiến hành phát 770 phiếu điều tra và thu về 751 phiếu hợp lệ để xử lý bằng phần mềm SPSS. Mẫu nghiên cứu được chia làm 2 nhóm đối tượng: nhóm các tầng lớp Khmer khác gồm 388 phiếu (sàng lọc từ 400 phiếu phát ra) và nhóm học sinh Khmer từ cấp Trung học cơ sở đến Đại học gồm 363 phiếu (sàng lọc từ 370 phiếu phát ra). Mẫu được phân tầng theo giới tính, 4 nhóm tuổi (10–30, 31–45, 46–60, từ 61 trở lên), 6 bậc học vấn (Tiểu học đến Đại học), nghề nghiệp đa dạng và phân bố tại 3 địa bàn trọng điểm: huyện Mỹ Xuyên (xã Tham Đôn, Đại Tâm), huyện Trần Đề (xã Viên An, Tài Văn) và thị xã Vĩnh Châu (xã Vĩnh Hải, phường 2).
2. Tác giả áp dụng các tiêu chí nào để đánh giá năng lực tiếng Khmer của đồng bào?
Tác giả đề xuất 3 tiêu chí đánh giá cụ thể:
- Tiêu chí 1: Đánh giá năng lực tổng thể theo 5 thang xếp loại (Thành thạo, Khá, Trung bình, Kém, Rất kém).
- Tiêu chí 2: Thang đo kỹ năng dựa trên 5 mức của Dreyfus, thiết kế riêng cho tầng lớp Khmer khác (nghe – hiểu được, đọc hiểu được, viết được...) và học sinh Khmer (nghe được nói được; nghe được không nói được; biết nói biết chữ; biết nói không biết chữ; đọc hiểu được).
- Tiêu chí 3: Đánh giá phạm vi sử dụng thực tế của tiếng Khmer trong mối quan hệ phân bố chức năng với tiếng Việt trong các tình huống giao tiếp.
3. Đặc điểm ngữ âm nổi bật của tiếng Khmer được trình bày trong luận án là gì?
Chữ Khmer là chữ ghi âm, không có dấu thanh. Đặc điểm nổi bật nhất của ngữ âm tiếng Khmer là tính chất phân chia hai hệ giọng "o" và "ô". Hệ thống chia tách nguyên âm và phụ âm thành: nguyên âm giọng "o" (24 âm), nguyên âm giọng "ô" (25 âm); phụ âm giọng "o" (15 âm) và phụ âm giọng "ô" (18 âm). Tiếng Khmer có 13 nguyên âm độc lập và hệ thống nguyên âm không độc lập (phụ thuộc vào phụ âm đầu). Cấu tạo âm tiết gồm 33 phụ âm đầu và 16 phụ âm cuối (6 phụ âm cuối phát âm theo giọng "o", 10 phụ âm cuối theo giọng "ô").
4. Những động cơ chủ yếu nào thúc đẩy hiện tượng trộn mã và chuyển mã ở người Khmer Sóc Trăng?
Dẫn theo khung lý thuyết của Đinh Lư Giang (2011), tác giả chỉ ra các động cơ chính dẫn đến trộn mã và chuyển mã gồm: thiếu công cụ diễn đạt thích hợp trong một ngôn ngữ; thói quen sử dụng ngôn ngữ hàng ngày; nguyên tắc đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của thông tin; sự tiện lợi và tiết kiệm trong diễn đạt; mở rộng hoặc thu hẹp người đối thoại; gợi ý tính chất nội nhóm/ngoại nhóm; và sự thay đổi chủ đề hoặc vai giao tiếp trong cuộc thoại.
5. Luận án khảo sát việc sử dụng tiếng mẹ đẻ trong những môi trường giao tiếp chính thức nào?
Luận án khảo sát tiếng Khmer trong 4 lĩnh vực chính thức gồm:
- Giáo dục: Hệ thống giáo dục quốc dân (môn học tiếng Khmer tại các trường phổ thông) và hệ thống giáo dục đặc biệt (trường Dân tộc Nội trú, lớp học chữ tại chùa).
- Hành chính: Các cơ quan nhà nước, đặc biệt là Ban Dân tộc tỉnh Sóc Trăng và chính quyền cơ sở.
- Truyền thông: Báo Sóc Trăng bản chữ Khmer và các chương trình phát thanh – truyền hình tiếng Khmer của Đài Phát thanh – Truyền hình Sóc Trăng.
- Hoạt động văn hóa – nghệ thuật: Các lễ hội tôn giáo truyền thống (Chôl Chnăm Thmây, Sene Dolta, Oóc Om Bóc) và nghệ thuật biểu diễn Dù Kê, Rô Băm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Thực trạng việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng" của tác giả Thạch Văn Việt là công trình chuyên khảo thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học xã hội, tiếp cận đối tượng nghiên cứu thông qua sự kết hợp giữa 751 mẫu khảo sát định lượng xử lý bằng SPSS và phương pháp điền dã dân tộc học ngôn ngữ. Công trình đã làm rõ bức tranh sử dụng tiếng mẹ đẻ của cộng đồng Khmer trong cả hai không gian giao tiếp chính thức và phi chính thức, chỉ ra sự phân hóa năng lực giữa khẩu ngữ và bút ngữ cũng như trạng thái song ngữ mất cân đối dưới áp lực tiếp xúc với tiếng Việt. Kết quả khảo sát cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ công tác hoạch định chính sách ngôn ngữ, chính sách giáo dục song ngữ và bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người thiểu số tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.