Chương I: Hệ thống hóa những vấn đề mang tính lý thuyết và thực tiễn để làm cơ sở triên khai đề tài; bao gồm: cảnh huống ngôn ngữ, song ngữ xã hội, miêu tả đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của địa bàn nghiên cứu, đặc điểm ngôn ngữ Khmer ở bình diện xã hội và bình diện ngôn ngữ, vẫn đề song ngữ Khmer — Việt tại tỉnh Sóc Trăng. Chương 2: Chương này miêu tả, phân tích và đánh giá thực trạng việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của người Khmer. Các kỹ năng được miêu tả và đánh giá theo nhiều góc độ 19 khác nhau. Chương này trình bày thực trạng mắt cân đối giữa kỹ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ trong đời sống tự nhiên và xã hội của đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng.
Chương 3: Chương này nghiên cứu thực trạng sử dụng tiếng mẹ đẻ của người Khmer trong giao tiếp phi chính thức, xét theo nhiều góc độ. Việc giao tiếp phi chính thức diễn ra trong một số tình huống gần gũi, quen thuộc như: gia đình, ngoài xã hội, một số trường hợp khác,.Thông qua các tình huống giao tiếp phi chính thức này, chúng tôi phân tích, đánh giá, tổng hợp về thực trạng sử dụng tiếng mẹ đẻ của người Khmer cũng như thái độ ngôn ngữ của người Khmer trong giao tiếp phi chính thức. Chương 4: Chương này nghiên cứu thực trạng sử dụng tiếng mẹ đẻ của người Khmer trong tình huống giao tiếp chính thức, xét theo nhiều góc độ. Chúng tôi chọn một số lĩnh vực giao tiếp như: lĩnh vực giáo dục, hành chính, truyền thông, văn hóa nghệ thuật.
Thông qua những tình huống này, chúng tôi phân tích, nhận xét và tổng hợp thực trạng sử dụng tiếng mẹ đẻ của người Khmer cũng như thái độ ngôn ngữ của người Khmer trong giao tiếp chính thức. 20 CHUONG 1: CO SO LY THUYET VA THUC TIEN 1.1 CO SO LY THUYET 1.1 Khái niệm kỹ năng ngôn ngữ Về kỹ năng ngôn ngữ, Nguyễn Đức Tôn cho rằng: Kỹ năng tiếng mẹ đẻ là kỹ năng ngôn ngữ của một tộc người nào đó như kỹ năng ngôn ngữ Khmer, kỹ năng ngôn ngữ Việt hay kỹ năng ngôn ngữ Hoa,.Kỹ năng tiếng mẹ đẻ được đề cập với nhiều khái niệm cận quan và hữu quan. Cần phân biệt song ngữ với tư cách là sở hữu cá nhân (tức song ngữ cá nhân — individual bilingualism) va song ngữ với tư cách là sở hữu nhóm (tức song ngữ xã hội — social bilingualism). Về song ngữ cá nhân (individual bilingualism) thì cần phân biệt khả năng ngôn ngữ và việc sử dụng ngôn ngữ.
Theo Colin Barker, kỹ năng ngôn ngữ (language skill) “chỉ những thành tố có thể được định nghĩa một cách rõ ràng, có thể quan sát được và có mức độ chuyên biệt cao, ví dụ: kỹ năng viết”. Năng lực ngôn ngữ (language competence) là “Sự thể hiện bên trong, có tính chất trí tuệ, của một ngôn ngữ, một cái gì đó tiềm tảng hơn là sự thể hiện. Khả năng như thế thường được quy cho hệ thống cơ bản, được suy ra từ sự hành ngôn”. Sự hành ngôn (language performance) là “ Sự biểu hiện bên ngoài của năng lực ngôn ngữ”.
Khả năng ngôn ngữ (language abilify) và sự thành thạo ngôn ngữ (language proficiency): Hai khái niệm này được các nhà khoa học hiểu khác nhau. Một số hiểu là công cụ để xác định mức độ thành công sau cùng của một ngôn ngữ; một số người khác lại hiêu là kết quả giống như khái niệm kỹ năng ngôn ngữ. Sự thành thạo ngôn ngữ đôi khi được dùng đồng nghĩa với năng lực ngôn ngữ, nhưng cũng có khi lại được xem là một kết quả cụ thể và có thể đo được từ một 21 cuộc kiểm tra năng lực ngôn ngữ. Cả hai khái niệm khả năng ngôn ngữ và sự thành thạo ngôn ngữ đều được phân biệt với fhành tựu ngôn ngữ (language achievemenr).
Thành tựu ngôn ngữ thường được coi là kết quả của quá trình đảo tạo cơ bản. Ngược lại, khả năng ngôn ngữ và sự thành thạo ngôn ngữ được xem như là sản phẩm của những cơ chế như: qua quá trình học tập chính thức, qua sự thụ đắc ngôn ngữ không chính thức thông qua tiếp xúc (ví dụ giao tiếp ngoài đường), nhờ những tư chất của mỗi cá nhân, chẳng hạn như “Sự thông minh”. Về khá năng song ngữ thì có 4 khả năng:nghe — hiểu, nói, đọc — hiểu và viết: Khả năng nghe, nói khả năng đọc, viết Khả năng lĩnh hội nghe đọc hiểu Khả năng sản sinh nói viết Mỗi khả năng trên có thê phát hiện ở mức cao hay thấp. Bốn khả năng này còn có thể chia nhỏ hơn.
Những kỹ năng cơ bản thường được kể là: phát âm, vốn từ vựng, mức độ chính xác ngữ pháp, khả năng truyền đạt những ý nghĩa chính xác ở những tình huống khác nhau và với những biến thể phong cách khác nhau. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn đề cập đến năng lực ngôn ngữ thứ năm, đó là khả năng tư duy bằng ngôn ngữ nào đó, còn gọi là “lời nói bên trong” hay “kỹ năng nói” — cho thấy khả năng cá nhân của cá nhân song ngữ sử dụng cả hai ngôn ngữ làm phương tiện tư duy (dẫn theo Nguyễn Đức Tồn, 2016, tr. Các nhà nghiên cứu cũng đề cập đến song ngữ tối thiểu và song ngữ tối đa. Song ngữ tối thiểu chỉ khả năng chỉ nói được vài câu.bằng song ngữ, còn song ngữ tối đa chính là khả năng có thể tư duy, nói năng bằng cả hai ngôn ngữ như những người bản ngữ (dẫn theo Nguyễn Đức Tôn, 2016, tr.
22 Năng luc ng6n ngir (language competence), kha nang ngôn ngữ (language abilify). thành thạo ng6n ngtr (language proficiency) va thanh tuu ngén ngt (language achievemen) là những khái niệm về trình độ ngôn ngữ của một cá nhân song ngữ. Các cá nhân song ngữ có nhiều mức độ ngôn ngữ khác nhau trong giao tiếp xã hội; ngoài ngôn ngữ mẹ đẻ, các cá nhân song ngữ có thể lĩnh hội nhiều ngôn ngữ khác nhau trong cộng đồng đa ngôn ngữ; tùy theo năng lực cá nhân song ngữ mà các mức độ sử dụng, thành thạo, và giao tiếp ngôn ngữ đạt những kết quả khác nhau. Trong 4 khái niệm trên, song ngữ cá nhân đạt mức độ thấp nhất là khả năng ngôn ngữ và năng lực ngôn ngữ; mức độ cao hơn là thành thạo ngôn ngữ và cao nhất là thành tựu ngôn ngữ.
Kỹ năng tiếng mẹ đẻ của người Khmer trong giao tiếp phản ánh thực trạng sử dụng ngôn ngữ của người Khmer trong cảnh huống ngôn ngữ đa tộc, đa ngữ. Việc sử dụng các kỹ năng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp còn phụ thuộc vào năng lực ngôn ngữ, trình độ học vấn và môi trường giao tiếp.2 Khái niệm thái độ ngôn ngữ Thái độ ngôn ngữ (language attitude) được hiểu là tình cảm (feelings) của người bản ngữ đối với một ngôn ngữ (Hoàng Quốc, 2009, tr. Theo cách hiểu này, thái độ ngôn ngữ là tình cảm tích cực (positive feelings) hay tình cảm tiêu cực (negative feelings) đối với ngôn ngữ mẹ đẻ hay ngôn ngữ khác; hoặc là những ấn tượng về sự khó khăn hay thuận lợi, đơn giản hay phức tạp, hoàn thiện hay thiếu sót của một hay nhiều ngôn ngữ. Khái niệm thái độ ngôn ngữ có nội hàm sâu rộng, đa dạng và phức tạp.
Chẳng hạn như, thái độ đối với một ngôn ngữ, thái độ đối với đa dạng ngôn ngữ hay phương ngữ, thái độ đối với một người nói ngôn ngữ cụ thể hay nhiều ngôn ngữ, thái độ đối với việc học ngôn ngữ, thái độ đối với hành vi liên quan đến ngôn ngữ như hành vi ngôn ngữ, hành chức ngôn ngữ, bảo tồn ngôn ngữ,.; thái độ ngôn ngữ có thể được xã hội hóa thông qua những tác nhân xã hội, các yếu tố địa lý , văn hóa, giáo dục, phương tiện truyền thông,. 23 Cho đến nay, ngôn ngữ học xã hội thường nhắc đến ba loại thái độ cơ bản, đó là thái độ trung thành ngôn ngữ, thái độ kỳ thị ngôn ngữ và thái độ tự ti ngôn ngữ. Thái độ trung thành ngôn ngữ là thái độ luôn hướng tới, bảo vệ ngôn ngữ của dân tộc mình, quê hương mình. Thái độ này bắt nguồn từ tình cảm yêu quý và thuỷ chung với dân tộc mình.
Vì thế, yêu dân tộc mình tức là yêu ngôn ngữ của mình dù nó chỉ là một ngôn ngữ “nhỏ”, một phương ngữ không chuẩn mực, xa lạ với ngôn ngữ chuẩn mực mà theo cách nói của người Hán là “ái Ốc cập ô” (vì yêu ngôi nhà nên yêu luôn cả con quạ đậu trên nóc nhà đó; yêu ai thì yêu cả sự vật liên quan đến người ấy; khi yêu, yêu cả đường đi lối về). Vì thế, “đây là cái lẽ vì sao khi người ta giao tiếp bằng ngôn ngữ của dân tộc mình thì lại cảm thấy thân thiết” (Hoàng Quốc, 2009, tr. Thái độ tự tỉ ngôn ngữ là thái độ mặc cảm - tự cảm thấy ngôn ngữ hay tiếng nói của mình (phương ngữ, thậm chí là giọng nói cá nhân) “không bằng” các ngôn ngữ hay phương ngữ khác. Thái độ tự tỉ về ngôn ngữ thường dẫn đến hai cách hành xử về ngôn ngữ: 1/ Từ bỏ ngôn ngữ hay phương ngữ của mình để chuyên sang ngôn ngữ hay phương ngữ có uy tín cao hơn; 2/ Học tập để nắm vững và biết cách sử dụng ngôn ngữ có uy tín hơn để sử dụng trong môi trường giao tiếp phù hợp (tức là vẫn duy trì “ngôn ngữ của mình” đồng thời tạo cho bản thân một khả năng song ngữ hoặc song phương ngữ (Hoàng Quốc, 2014, tr.
Thái độ kỳ thị ngôn ngữ được biểu hiện bằng sự coi nhẹ, xem thường ngôn ngữ hoặc phương ngữ của cộng đồng khác, quá đề cao ngôn ngữ hay phương ngữ của cộng đồng mình. Sự hình thành của thái độ ngôn ngữ phụ thuộc vào hàng loạt các nhân tố ngoài ngôn ngữ như giới tính, nghề nghiệp, tuổi tác và các nguyên nhân chính trị - xã hội khác nữa. Thái độ ngôn ngữ cũng không phải nhất thành bat biến mà nó thay đổi trong cộng đồng cũng như trong mỗi cá nhân dưới tác động của các nhân tố nêu trên (Hoàng Quốc, 2014, tr. 24 Như vậy, có hai loại thái độ ngôn ngữ: thái độ ngôn ngữ tích cực và thái độ ngôn ngữ tiêu cực.
Thái độ ngôn ngữ tích cực gồm thái độ trung thành ngôn ngữ; thái độ ngôn ngữ tiêu cực bao gồm thái độ kỳ thị ngôn ngữ và thái độ tự ti ngôn ngữ.3 Cảnh huống ngôn ngữ và song ngữ xã hội 1.1 Cảnh huống ngôn ngữ - Khái niệm cảnh huống ngôn ngữ Cảnh huống ngôn ngữ (language setting) là một khái niệm của ngôn ngữ học xã hội.