ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh sâu rãng, viêm quanh răng là hai bệnh phổ biến nhất trong các bệnh răng miệng, gặp ở 90% dân số thế giới. bệnh mắc từ rất sớm và tăng dần theo lứa tuổi. phí tổn chữa rất cao. Trong 20 năm gần đây, mặc dù có sự giảm tỷ lệ sâu răng một cách đáng kể ở những nước phát triển nhờ những tiến bộ về phòng bệnh nhưng không thấy giảm nhiều ở những nước đang phát triển, mà ở một số nước còn thấy sự tiến triển của sâu răng tăng lên.
Ở Việt Nam, tình trạng sâu răng và bệnh quanh răng ở mức cao trên 90% dân số {1}, {3}, {6}. và có chiều hướng gia tăng vào những năm gần đây, đặc biệt ở nơi chưa có chương trình nha học đường. {3} Tré em lứa tuổi đang đi học (6-15 tuổi) có tỷ lệ mắc các bệnh rãng miệng cao và được ưu tiện hàng đầu trong chăm sóc sức khoẻ rãng miệng ở nước ta. Năm 2001, viên RHM Hà Nội phối hợp với trường đại học Nha khoa Adelaide ( Austrailia ) tổ chức điều tra sức khoẻ răng miệng qui mô toàn quốc và cho kết quả 84,9% trẻ em 6-8 tuổi sâu răng sữa, 64,1% trẻ em 12-14 tuổi sâu răng vĩnh viễn và 78,55% có cao răng.
Điều đó cho thấy bệnh räăng miệng ở trẻ em đang ở mức báo động đồi hỏi có những giải pháp phòng bệnh và điều trị hữu hiệu. (17] Muốn giảm bớt tỷ lệ mắc bệnh răng miệng thì phải đẩy mạnh việc phòng bệnh răng miệng trone cộng đồng, đặc biệt là đối với trẻ em. Lứa tuổi học đường là thời kỳ thay răng vĩnh viên và cũng là thời kỳ hay mắc các bệnh về răng miệng, mà chủ yếu là sâu răng và viêm lợi. Vì thế việc chăm sóc sức khoẻ răng miệng của các em trong giai đoạn này là rất cần thiết.
[I8 ] Huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên đang phát triển mọi mặt về kinh tế, xã hội, tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện. Đặc biệt, các hoạt động của ngành Y tế đã có nhiều khởi sắc. Riêng công tác nha học đường hầu như không có và chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về thực trạng sâu rang, viêm lợi của học sinh nói chung, học sinh tiểu học nói riêng và các yếu tố liên quan đến 2 bệnh sâu răng và viêm lợi tại đây. Theo số liệu liên về bệnh răng miệng của trung tâm Y tế huyện.
công tác nha học đường hoạt động được 2 năm 1997, 1998 tại một số trường tiểu học, trong đó có trường tiểu học xã An Vĩ là một trường điểm nằm ngay giữa trung tâm thị trấn Khoái Châu và trường tiểu học xã Hồng Tiến. một trường nằm cách xa thị trấn. Để có được kết quả về tình hình sâu răng. viêm lợi, một số yếu tố liên quan và so sánh sự khác nhau giữa 2 trường tiểu học trên chúng tôi nghiên cứu đề tài : “?hực trạng sau rang, viêm lợi và một số yếu tố liên quan ở học sinh lớp 1 và lớp Š tại 2 trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên năm 2005”.
Kết quả thu được từ nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc lập kế hoạch triển khai công tác nha học đường sắp tới và làm tiền đề cho những nghiên cứu sâu hơn về răng miệng tại huyện Khoái Châu. Mục tiêu chung Tìm hiểu thực trạng bệnh răng miệng và một số yếu tố liên quan ở học sinh lớp 1 và lớp 5 tại 2 trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến. huyện Khoái Châu, tính Hung Yén nam 2005. Trên cơ sở đó đưa ra một số các giải pháp thực thi nhằm hạn chế, khống chế bệnh rãng miệng ở học sinh tiểu học của huyện Khoái Châu, Hưng Yên.
Mục tiêu cụ thể: - Mô tả thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi ở học sinh lớp 1 và lớp 5 tại 2 trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên năm 2005. - M6 ta mot s6 yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng, viêm lợi ở học sinh lớp I và lớp 5 tại 2 trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến. huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên năm 2005. CHUONG I: TONG QUAN TAI LIEU 1.
Sau rang va viém loi 1. Nguyên nhân và những hiểu biết về sản rang: Sâu rãng là một quá trình bệnh lý, xuất hiện sau khi rãng đã mọc, tổ chức cứng của răng bị phá huỷ và tạo thành một hố gọi là lô sâu. Trước năm 1970, người ta còn quan niệm sau rang là một thương tổn không thể phục hồi. Giải thích bệnh căn sâu răng, người ta chú ý nhiều đến chất đường và vi khuẩn Streptococcus Mutans va giai thich bénh căn sâu răng bằng sơ đồ KEY như sau: Sơ đồ Key Theo sơ đồ Key, việc phòng bệnh sâu răng tập trung vào chế độ ăn hạn chế đường, tiến hành vệ sinh kỹ răng miệng.
Sau năm 1975 người ta làm sáng tỏ hơn căn nguyên bệnh sâu răng và giải thích bằng sơ đồ WHITE thay thế một vòng tròn của sơ đồ KEY (chất đường) bằng vòng tròn chất nền (Substrate) nhấn mạnh vai trò nước bọt (chất trung hoà - Buffers) [26] và pH của dòng chảy môi trường xung quanh răng. Người ta cũng thấy rõ hơn tác dụng của Fluor khi gặp Hydroxyapatite của răng kết hợp thành Fluoroapatit rắn chắc, chống được sự phân huỷ của axit tạo thành thương tổn sâu rãng [26], [161] Chất nền Nước bọt WHITE CYCLE (1975) Người ta có thể tóm lược cơ chế sinh bệnh học sâu răng bằng hai quá tình huỷ khoáng và tái khoáng. Mỗi quá trình đều do một số yếu tổ thúc đẩy. Nếu quá trình huỷ khoảng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ xuất hiện sâu răng: Sâu răng = Huỷ khoáng > Tai khoáng (cơ chế hoá học va vat ly sinh hoc) Các yếu tố gây mat 6 dinh lam sau rang Các yếu tố bao vệ chong lai sau rang Mảng bám: Vị khuẩn (kiểm soát) Chế độ an đường nhiều lần (kiểm soát) Thiếu nước bọt hay nước bọt axit Axit từ dạy dầy tràn lên miệng pH<3 Nước bọt (kích thích) Khả nãng kháng acide của men Fluor có ở bề mặt men răng Trám bít hố rãnh D6 Ca** NPO, quanh rang pH>5,5 Với những nghiên cứu về căn nguyên của sâu răng, người ta thấy sâu răng là một bệnh, các lỗ sâu chỉ là đấu hiệu của bệnh đang hoạt déng [161].
Theo Seob 98% những nguy cơ chủ yếu gây sâu răng ở trẻ em là do ăn uống thiếu Fluor, vệ sinh răng miệng kém và ăn chất ngọt (đường) mà không kiểm soát được [133]. Năm 1995 Hội Nha khoa Hoa Kỳ [43] đã đưa ra khái niệm sâu räng là bệnh nhiễm trùng với vai trò gây bệnh của vi khuẩn và giải thích nguyên nhân sau rang bang so đồ với ba vòng tròn của các yếu tổ vật chủ (răng: gồm men răng, ngà rang, xương răng) môi trường (thức ân có khả năng lên men chứa carbohydrate) và tác nhân (vi khuẩn chủ yếu là Streptococcus Mután và Lactobacillus) như sau: / Va * ⁄ chủ + Môi trường Sơ đồ nguyên nhân sâu rang của hội nha khoa Hoa Kỳ [43]. [82] Cũng từ những hiểu biết mới về căn nguyên của sâu rang, ngudi ta cho rang bất cứ một phương pháp nào có thể ngan cản được phản ứng sâu răng theo chiều từ trái sang phải (mất khoáng) hoặc làm gia tăng chiều từ phải sang trái (tái khoáng) đều có thể được xem là một biện pháp phòng ngừa sâu răng. Có 4 chiến lược được ghi nhận để thay đổi tốc độ tấn công của sâu răng cho cộng đồng.
Đó là: Vệ sinh răng miệng, chế độ ăn uống có kiểm soát chất đường và tĩnh bột, trám bít hỗ rãnh, sử dụng Fluor. Cải thiện vệ sinh răng miệng, thay đổi chế độ ăn uống sẽ làm giảm lượng mất khoáng, trong khi đó, trám bít hố rãnh có thể ngăn ngừa được sự tiếp cận của axit phân huỷ từ thức ăn tới răng. Fluor có cả hai tác dụng làm giảm mất khoáng va làm tăng tái khoang [18]. Vac xin phòng sâu răng cũng được nghiên cứu và là du phòng sau rang theo hướng kháng vi khuẩn.
Trên thí nghiệm ở chuột. vac xin này kích thích hình thành các immunoglobulin A nước bọt (IgA) có khả năng ức chế các enzym glucosyltransferaze do đó ức chế sự hình thanh dextran ya mang bam rang. lgA ngăn cản 90-99% vị khuẩn bám và men răng. Tuy nhiên việc thực nghiệm trên 15 người chưa được thực hiện và ở người cơ chế tác dụng còn phức tạp hơn [48].
Năm 2000, Fontan cong bố hiệu quả làm giảm phát triển sâu rang trong thực nghiệm của kháng thể đa clôn kháng các protein bề mặt Streptococcus mutans [97]. Tình hình bệnh sâu răng ở trẻ em: Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa ra 5 mức độ sâu räng phụ thuộc vào chỉ số SMT ở lứa tuổi 12 và lứa tuổi 35 - 44 như sau: Mức độ SMT 12 tuổi SMT 35 - 44 tuổi Rất thấp 0,0 - 1,1 0,2 - 1,5 Thấp 1.6 - 6,2 Trung binh 27-434 6,3 - 12,7 Cao 4,5 - 6,5 12,8 - 16,2 Rất cao >6,6 > 16,3 Phân chia mức độ sâu răng theo chỉ số SMT của WHO * Tình hình diễn biến sâu răng trên thế giới: Theo xác định của ngân hàng đữ liệu sức khoẻ răng miệng của WHO [157] hiện nay, có hai xu hướng chính của sức khoẻ răng miệng: - Xu hướng xấu đi cho phần lớn các nước đang phát triển (SMT trung bình của trẻ 12 tuổi tăng từ 2 lên 4, l). - Xu hướng cải thiện cho phần lớn các nước công nghiệp hoá cao (SMTT trung bình của trẻ 12 tuổi đã tụt từ 7 - 10 xuống khoảng 2 - 4) [14] Các nước có nền kinh tế phát triển như Anh, Canada, Thuy Điển, úc, Mỹ, Phần Lan. những năm 60 - 70 có tỷ lệ sâu răng cao trên 90% dân số, trung bình môi trẻ em 12 tuổi có chỉ số SMTR từ 7,4 đến 12 và tình hình sâu rãng là rất nghiêm trong.
Tuy nhiên những năm 80-90 và đến nay chỉ sổ này đã giảm xuống rất nhiều. Nam 997, tuổi 12 của Canada, Na Uy, Thuy Điển là 12 - 2,6: Mỹ là 1,2 Phần Lan va Australia < 1,2 [114], [150] Một số tác giả nghiên cứu và đưa ra nhận định: tình hình sau rang va chi số SMT tuổi 12 ở các nước công nghiệp hoá cao, nhiều nước ở châu Âu và cả những nước trong khu vực như Malaixia, Singapore [109] [111] tt nam 1983 dén nam 2000 l6 có nhiều biến động nhưng theo chiều hướng giảm xuống [87], [S8], [89], [94]. Đó là nhờ các biện pháp phòng bệnh hữu hiệu.