CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOẠT ĐỘNG CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LAP TRONG DIEU KIEN TY CHỦ VA THU NHAP CUA GIANG VIEN 1.1 Một số vấn đề về trường công lập 1.1 Khái niệm về trường công lập Các cơ sở giáo dục và đào tạo chuyên nghiệp hay vẫn thường gọi là các trường học về bản chất cũng là một loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp chuyên cung cắp các dịch vụ giáo dục va dao tao, vi thé cũng có mô hình tổ chức. quản lý và hoạt động nhất định. Căn cứ vào quyền sở hữu có thê chia các cơ sở giáo dục và đào tạo thành 3 loại hình thức: các cơ sở giáo dục và đào tạo công. lập, thường gọi là các trường công lập; các cơ sở giáo dục và đảo tạo tư nhân, hay các trường tư; các cơ sở giáo dục đào tạo của các tổ chức xã hội, tôn giáo, thường gọi là các cơ sở giáo dục và đào tạo cộng đồng “Trường công lập là các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp của hệ thống giáo dục quốc gia, thuộc quyền sở hữu của nhà nước, do nhà nước thành lập và thực hiện quản lý vận hành và vì thế có lợi thế về uy tín, quy mô lớn và tính ổn định cao.
Phần lớn các trường công lập được coi là cơ sở để nhà nước thực hiện các chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo quốc gia, định hướng thay đổi cơ cấu kinh tế và nghề nghiệp. hơn là vì mục tiêu lợi nhuận. Tùy theo điều kiện phát triển của kinh tế - xã hội, văn hóa và lịch sử mà mỗi nước có định hướng phát triển loại hình cơ sở giáo dục và đào tạo khác nhau. Ở Việt Nam, các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò quyết định đối với nền giáo dục và đào tạo của đắt nước.2 Các hoạt động cơ bản của trường công lập —¬ Công tác tuyển sinh và quản lý người học Tuyển sinh là hoạt động mang tính khởi tạo, tiền đề cho các hoạt động khác của một cơ sở giáo dục và đào tạo nói chung.
Công tác tổ chức và thực hiện § tuyển sinh nhằm thu hút người học, là đối tượng cung cấp dịch vụ của trường. Do vậy, công tác tuyển sinh của một trường đóng vai trò quan trọng nhằm đảm bảo quy mô người học hay cũng chính là đảm bảo doanh thu, hiệu quả hoạt động của chính trường đó, gián tiếp thể hiện uy tín, chất lượng giáo dục đào tạo của cơ sở. Đại đa số các trường công lập được phép tuyển sinh căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao hàng năm. Quản lý người học là hoạt động hỗ trợ quá trình giáo dục và đào tạo nhằm đảm bảo sự chấp hành nghiêm chỉnh quy chế, các yêu cầu của cơ sở giáo dục từ người học.
Quản lý người học giúp duy trì quy mô đào tạo được ôn định, cung. cấp thông tin về tình tình tổ chức thực hiện, chất lượng giáo dục đào tạo, trên cơ: sở đó có những biện pháp điều chỉnh kịp thời. Ngoài ra, việc quản lý người học còn có ý nghĩa giáo dục nhân cách, đạo đức người học theo các chuẩn mực xã hội, các quy định từ đầu vào tuyển sinh. —¬ Tổ chức và thực hiện hoạt động giáo dục và đào tạo Đây là hoạt động trung tâm và quan trọng nhất của một cơ sở giáo dục và đạo nói chung, các trường công lập nói riêng.
Quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động đào tạo dựa trên kế hoạch và chương trình đã được Bộ Giáo dục &: t. Người học sau khi trúng tuyển sẽ được tham gia vào chương. trình đào tạo để từng bước tiếp nhận các kiến thức, kỹ năng.theo tiễn trình đào tạo và nhằm đạt được mục tiêu đã định khi kết thúc chương trình đảo tạo. Tại các trường công lập, công tác tổ chức và thực hiện hoạt động giáo dục và đào tạo mặc dù mang tính ồn định cao song đôi khi mang nặng tính hành chính, thiếu sự linh hoạt, mang tính khuôn mẫu, phải chấp hành đúng các quy định của của nhà nước, chưa đáp ứng được nhu cầu về phương thức, thời gian hay cơ cầu ngành nghề một cách kịp thời.
¬ Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo là hoạt động mang tính thường. xuyên, xuyên suốt của các cơ sở giáo dục va đảo tạo. Vị thế và uy tín của một cơ sở giáo dục và đào tạo phần lớn được đánh giá, quyết định bởi chương trình đào. 9 tạo và phương thức thực hiện chương trình đó.
Do đó, công tác công tác xây dựng và phát triển chương trình đào tạo có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng tuyển sinh và phát triển bền vững của các cơ sở giáo dục và đào tạo nói chung, trường công lập nói riêng. Chương trình đào tạo luôn được cập nhật, đổi mới liên tục phù hợp với yêu cầu trong mỗi giai đoạn cụ thể của nền kinh tế - xã hội cũng như các yêu cầu mang tính đặc thù, hiện đại khác Trên thực tế, tại các trường công lập, việc đôi mới, cập nhật chương trình đào tạo vẫn chưa thực sự “nhạy” với nhu cầu của xã hội. Việc thiết kế và xây dựng chương trình đào tạo vẫn mang tính hành chính cao. Chỉ phí cho hoạt động này cần thiết được ưu tiên mọi nguồn lực, cả về chất xám và tài chính.
Các trường công lập mặc dù được sự hỗ trợ của NSNN song lại chịu sự hạn chế về các định mức chỉ tiêu, do đó cần thiết phải có sự tự chủ trong tài chính để có thể chủ động hơn trong công tác xây dựng và phát triển chương trình đào tạo để chương trình học thực sự có chất lượng và thu hút được người học. —¬ Phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực chủ chốt trong các cơ sở giáo dục và đào tạo nói chung và trường công lập nói riêng là đội ngũ giáo viên, đây là yếu tố quyết định đến chất lượng và hiệu quả của mỗi trường. Việc phát triển nguồn nhân lực tại các trường công lập không chỉ đơn thuần tác động đến chất lượng, hiệu quả của giáo dục và đào tạo tại chính trường đó mà còn có tác động đến toàn bộ nền kinh tế, xã hội. Đây là hoạt động mang tính nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên của mọi cơ sở giáo dục dưới nhiều hình thức khác nhau.
Ngoài tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp khác, giáo viên trường công lập còn được hưởng sự hỗ trợ về mặt tài chính để tham gia vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, chuyên môn cũng như khả năng nghiên cứu khoa học. — Quản lý, sử dụng tài sản và các nguồn lực tài chính được NSNN cấp. Tài sản và các nguôn lực tài chính của các trường công lập đều là tài sản của nhà nước và là điều kiện vật chất để các trường này thực hiện mục tiêu 10 nhiệm vụ giáo dục và đào tạo trong từng thời kỳ của đất nước. Trách nhiệm của các trường công lập là phải quản lý và sử dụng tài sản, các nguồn lực tài chính một cách hiệu quả, đúng mục đích, quy định của nhà nước.
Ngoài quyền sử dụng đất, phòng học, hệ thống trang thiết bị, tư liệu, đồ dùng dạy học. các trường công lập còn được sử dụng các nguồn lực tài chính để chỉ trả lương, thưởng, các khoản phụ cấp và kinh phí khác theo định mức cho cán bộ, giảng viên.2 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại các trường đại học công lập 1.1 Tự chủ trong các trường đại học công lập Khai nigm “ne chit” 06 thể hiểu là sự mình có quyền và có thể kiễm soát được mọi hoạt động của mình. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta, cũng như mọi doanh nghiệp khác, giáo dục và dao tao tai các trường đại học cũng tuân theo cơ chế của các quy luật thị trường, nỗi bật như quy luật cung cầu hay quy luật giá trị. Hoạt đông đào tạo của các trường đại học không chỉ nhằm.
đáp ứng được nhu cầu nhân lực của khu vực Nhà nước mà còn phải đáp ứng nhu cầu của mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân cũng như đáp ứng. được nhu cầu học tập của người dân. Để thực hiện được mục tiêu đó, các trường, đại học phải được giao quyền tự chủ trong công tác đào tạo. Luật Giáo dục Việt Nam quy định, các trường đại học được giao quyền tự chủ trong các lĩnh vực sau: Xây dựng chương trình đảo tạo, bao gồm: giáo trình và kế hoạch giảng dạy; Tổ chức tuyển sinh, đào tạo và công nhận tốt nghiệp; Tổ chức bộ máy; Huy động, quan lý, sử dụng nguồn lực; và Hợp tác trong nước và ngoài nước.
Tuy nhiên, về mức độ tự chủ của các trường thì chưa được quy định cụ thể. Vì vậy, trường đại học được quyền tự chủ các lĩnh vực như sau: —¬ Tự chủ trong quản lý điều hành hoạt động “Theo xu hướng hiện đại, có tới bốn cấp quản lý tồn tại trong các trường. đại học gồm: Bộ môn, Khoa, Ban Giám hiệu và Hội đồng Nhà trường. Hai hoạt đông chính trong quá trình hoạt động của một trường công lập bao gồm: ~ Tự chủ trong hoạt động đào tạo, tuyển sinh Hoạt động đào tạo gồm tất cả các nội dung như: tuyển sinh, chương trình đảo tạo, giáo trình; ngành đảo tạo; phương pháp giảng dạy.
Trong đó, tuyển u sinh là một khâu quan trọng của quá trình đảo tạo được ví như đầu vào của quá trình sản xuất. Chỉ tiêu tuyển sinh phải được dựa trên cơ sở nhu cầu học tập, nhu giảng, này có thể thay đổi, biến động hàng năm, biến động theo giai đoạn của nền kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) lại dang quyết định giao chỉ tiêu tuyển sinh cho từng trường. Nên chăng, Bộ trao quyền quyết định chỉ tiêu tuyển sinh cho nhà trường.
Các trường được phép tự quyết định chỉ tiêu đào tạo căn cứ theo năng lực của mình, định kỳ báo cáo cơ quan quản lý và đồng thời công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để xã hội cùng tham gia giám sát chất lượng đào tạo. 'Về ngành đào tạo, quá trình để trường mở một ngành đảo tạo mới mat rat nhiều thời gian, phức tạp, khó khăn. Nếu coi nhà trường như một doanh nghiệp, việc mở ngành đảo tạo nào cũng giống như sản xuất, kinh doanh mặt hàng gì đó. doanh nghiệp hoàn toàn tự quyết định.
Tuy nhiên, “sản phẩm” vẫn cần phải được. kiểm định chất lượng trước khi tung ra thị trường.