ĐẶT VẤN ĐỀ Trong ba thập kỷ qua, thuốc y học cổ truyền, đặc biệt là các loại thuốc chế từ thảo dược, đã được sử dụng ngày càng nhiều trên toàn thế giới. Tuy nhiên cũng đã có ngày càng nhiều báo cáo về việc bệnh nhân bị các hậu quả có hại cho sức khoẻ khi sử dụng các chế phẩm từ thảo dược. Các cuộc phân tích và nghiên cứu đã cho thấy có nhiều lý do khác nhau dẫn đến những vấn đề này. Một trong những nguyên nhân chính của các phản ứng có hại đã được báo cáo liên quan trực tiếp đến chất lượng kém của các loại thuốc từ thảo dược, bao gồm cả những nguyên liệu thảo dược.
Thế nên, người ta cũng đã thừa nhận rằng việc bảo đảm chất lượng và kiểm tra chất lượng các loại thuốc thảo dược vẫn chưa được quan tâm đúng mức (Tổ Chức Y Tế Thế Giới, 2003). Trong vòng hai thập kỉ gần đây, xu hướng quay lại sử dụng các sản phẩm thuốc có nguồn gốc thảo dược để phòng và trị bệnh trở nên phổ biến. Dược điển các nước khu vực châu Á như Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản đều có các chuyên luận về dược liệu. Một số chuyên luận dược liệu cũng đã được đưa vào Dược điển Mĩ, châu Âu.
Theo ước tính, 70% dân số toàn cầu vẫn sử dụng thuốc từ dược liệu trong chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng. Vì vậy, tổ chức y tế thế giới đã nhấn mạnh việc đảm bảo chất lượng của các thuốc này phải dựa trên các kĩ thuật phân tích hiện đại, với việc sử dụng các chất chuẩn đối chiếu phù hợp. Đảm bảo chất lượng dược liệu sử dụng trong các bệnh viện, các cơ sở sản xuất thuốc là một vấn đề quan trọng. Chất lượng dược liệu do nhiều khâu quyết định từ trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch, chế biến đến bảo quản.
Trong đó, thu hái, sơ chế và bảo quản dược liệu là những khâu cần được quan tâm và chú trọng để góp phần giữ ổn định cho chất lượng dược liệu. Đồng thời, mỗi vị dược liệu đều có những đặc tính riêng; Do đó, mỗi loại cây thuốc cần có biện pháp về thu hái, sơ chế và chế biến riêng.800 loài cây là thuốc trên tổng số 10.600 loài thực vật. Tổng sản lượng dược liệu trồng ở Việt Nam ước tính hàng năm khoảng 3. Do đó việt Nam được coi là nước có nguồn dược liệu hết sức phong phú.
Tuy nhiên, việc khai thác, trồng trọt bảo quản và sử dụng dược liệu ở 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước ta chưa được quan tâm quản lý và đầu tư tương xứng với tiềm năng. Đồng thời việc sơ chế và chế biến dược liệu thực tế thường không tiến hành theo quy trình mà theo hướng đơn giản hóa, chủ yếu sử dụng theo hình thức sản xuất thủ công theo kinh nghiệm cổ truyền, tuy nhiên, đây cũng là điều dẫn đến tổn thất sau thu hoạch cả về lượng và chất. Với các cây thuốc thì cần thu hái trong mùa hay khoảng thời gian tối ưu để đảm bảo sản xuất được dược liệu và thành phẩm thảo dược với mức chất lượng tốt nhất có thể được. Thời điểm thu hái phụ thuộc vào bộ phận dùng của cây cần.
Cần xác định thời điểm tốt nhất để thu hái (mùa hay giờ trong ngày đạt đỉnh chất lượng), tính theo chất lượng và số lượng của các hợp phần hoạt tính sinh học hơn là tổng sản lượng thực vật của các bộ phận cây thuốc. Thu hoạch quá sớm, cây chưa già, củ còn non, tỷ lệ khô thấp; thu hoạch quá muộn thì chồi mới mọc lên, tiêu hao mất nhiều dinh dưỡng của củ (Tổ Chức Y Tế Thế Giới, 2003). Dược liệu huyền sâm là rễ đã phơi hay sấy khô của cây Huyền sâm (Scrophularia ningpoensis Hemsl.), họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae). Hiện nay, huyền sâm là một trong những loại dược liệu quý và tiềm năng được sử dụng chủ yếu trong y học cổ truyền chủ trị các bệnh nhiệt, ngũ tạng nhiệt, huyết nhiệt, sốt nóng, miệng lưỡi khô, khát nước, mẩn ngứa, viêm họng, lở miệng, viêm amidan.
Vì vậy mà vị thuốc thường được sơ chế, chế biến theo các phương pháp cổ truyền. Trên cơ sở về các giá trị sử dụng dược liệu cây huyền sâm và khả năng phát triển cây thuốc này ở Việt Nam, năm 2013, Thủ Tướng Chính Phủ đã phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, theo đó cây Huyền sâm được quy hoạch trồng tại Lào Cai (Bắc Hà), Sơn La (Mộc Châu) và Lâm Đồng (Đà Lạt) (Thủ Tướng Chính Phủ, 2013). Để phát triển vùng trồng cây Huyền sâm một cách bền vững và đảm bảo được chất lượng dược liệu Huyền sâm trồng theo GACP (Good Agricultural and Collection Practices) với chất lượng tốt, dược liệu sạch và hiệu quả cho người sử dụng. Tuy nhiên, theo kiểm tra của Bộ Y tế thì dược liệu huyền sâm trên thị trường có chất lượng không cao thậm chí nhiều mẫu kiểm tra không còn hoạt chất có tác dụng chữa bệnh, chưa kể còn chứa nhiều vi sinh vật, hóa chất độc hại cho người sử dụng.
Hơn nữa công nghệ thu hái, sơ chế và chế biến huyền sâm chưa thống nhất dẫn đến chất lượng dược liệu kém và không ổn định. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để giải quyết những vấn đề nêu trên, nhu cầu nghiên cứu về thu hoạch, sơ chế, đặc chế huyền sâm để có một quy trình an toàn, tiết kiệm mà vẫn đảm bảo chất lượng dược liệu là hết sức cần thiết. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thời điểm thu hoạch và phương pháp sơ chế dược liệu huyền sâm (Scrophularia ningpoensis Hemsl. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU Mục đích Xác định thời điểm thu hoạch và phương pháp sơ chế dược liệu huyền sâm phù hợp.
Yêu cầu - Xác định được thời điểm thu hoạch huyền sâm cho năng suất và chất lượng cao; - Xác định được ảnh hưởng của nhiệt độ sấy sơ bộ tới chất lượng dược liệu huyền sâm; - Xác định được ảnh hưởng của độ ẩm nguyên liệu huyền sâm ủ của tới chất lượng dược liệu; - Xác định được ảnh hưởng của thời gian ủ tới chất lượng dược liệu huyền sâm; - Xác định được ảnh hưởng của nhiệt độ sấy khô tới chất lượng dược liệu huyền sâm; - Đề xuất quy trình thu hái, sơ chế dược liệu huyền sâm. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. XU THẾ PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG TRỒNG TRỌT, THU HÁI VÀ SƠ CHẾ DƯỢC LIỆU 2. Xu thế phát triển dược liệu ở Việt Nam Ở Việt Nam, nhu cầu sử dụng đông dược là rất lớn.
Theo đánh giá của Viện Dược liệu năm 1995, nhu cầu dược liệu toàn 4 quốc khoảng 30 000 tấn, cung cấp cho 145 bệnh viện y học cổ truyền, 242 khoa y học cổ truyền trong bệnh viên đa khoa và khoảng 30.000 lương y đang hành nghề, ngoài ra còn cần khoảng 20.000 tấn cho nhu cầu xuất khẩu (Nguyễn Gia Chấn, 2005); (Nguyễn Thượng Dong, 2009). Nhiều chế phẩm đông dược đã được nghiên cứu tại các viện nghiên cứu và chuyển giao kĩ thuật cho các xí nghiệp sản xuất trong nước, như thuốc viêm gan Haina, thuốc hạ cholesterol máu và hạ huyết áp Ruventat, thuốc chống đái tháo đường Morantin, thuốc nhỏ mũi Ngũ sắc, thuốc hòa tan sỏi thận Somatan, Sotinin, thuốc tăng tuần hoàn máu Angelin, thuốc viêm gan phyllantin (Nguyễn Minh Khởi, 2011). Về nghiên cứu phát triển, hiện nay các công ty đa quốc gia đang có xu hướng phát triển các dược phẩm có chứa một hoạt chất từ cây thuốc (tinh chất dược liệu) do các chế phẩm này có giá trị kinh tế lớn hơn nhiều so với các sản phẩm chứa cao thuốc (extracts) hoặc hợp chất toàn phần chưa xác định được trong các công thức cổ truyền, kinh điển (Lê Văn Truyền, 2010). Riêng trong năm 2010, Cục quản lí Dược, Bộ Y tế đã cấp phép nhập khẩu cho 106 chế phẩm từ dược liệu thuộc 15 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Sự phát triển nhanh chóng các thuốc từ cây cỏ là do xu hướng của các nước phương Tây nhằm tăng cường tự điều trị, và do lo lắng về tác dụng bất lợi của chế phẩm hóa dược và sự nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò của thuốc từ dược liệu trong điều trị các bệnh mạn tính, bệnh thông thường (Lê Văn Truyền, 2010). Với sự phát triển của các kĩ thuật phân tích hiện đại, nhiều hoạt chất được tách chiết từ dược liệu, nghiên cứu xác định cấu trúc và tác dụng dược lí. Kết hợp với công nghệ bào chế, các nhà sản xuất đã cho ra đời những dạng thuốc thuận tiện cho người sử dụng như viên nén, viên nang, cốm thuốc, trong đó nguyên liệu đầu vào là tinh chất hoặc cao dược liệu chuẩn hóa có hàm lượng hoạt chất chính xác. Điển hình trong nhóm này là các chế phẩm viên nén, viên 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nang cao Bạch quả (Ginkgo biloba), chứa các hoạt chất ginkgo flavnol glycosides, terpene lactones, bilobalide, ginkgolide A, ginkgolide B, ginkgolide C; viên tỏi chứa dịch chiết tỏi có hoạt chất chính là allicin, viên nén cao Cúc gai dài (Cardus marianus) chứa hoạt chất chính là silymarin… (Cục Quản Lí Dược Bộ Y Tế, 2010).
Nhiều hoạt chất chiết xuất từ dược liệu được tinh chế đạt đến độ tinh khiết có thể sử dụng làm nguyên liệu bào chế thuốc tiêm. Điển hình trong nhóm này là các chế phẩm thuốc tiêm chứa flavonoid của Ginkgo biloba; thuốc tiêm chứa paclitaxel phân lập từ cây Taxus Brevifolia (biệt dược; thuốc tiêm chứa vinblastin phân lập từ cây Vinca rosea… (Trường Đại Học Dược Hà Nội, 2006). Hiện nay, nguồn tài nguyên cây cỏ và tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc là cơ sở quan trọng để sàng lọc và tìm ra thuốc mới. Hướng nghiên cứu này đang rất được coi trọng ở các nước có nền y học tiên tiến như Mĩ, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc (Nguyễn Gia Chấn, 2005).
Thực trạng trồng trọt, thu hái và sơ chế dược liệu ở Việt Nam Theo kết quả điều tra của Viện Dược Liệu, tính đến 2005 đã ghi nhận được 3948 loài thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc; 52 loài tảo biển, 408 loài động vật và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc ở Việt Nam. Trong tổng số 3948 loài cây thuốc và nấm làm thuốc đã biết, chỉ có khoảng 500 loài là cây thuốc trồng hay từ các loài cây trồng khác nhưng có bộ phận được dùng làm thuốc. Song trên thực tế, hiện chỉ có 44 loài trong tổng số đó là cây thuốc trồng sản xuất ra hàng hóa (ở các mức độ khác nhau).