Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Thông tin về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử ở Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp báo Vnexpress và Sức khỏe & Đời sống)" của tác giả Đặng Vân Anh được thực hiện tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, thuộc ngành Xã hội học (mã số 7310301), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Hương Trà.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng dịch bệnh truyền nhiễm luôn là thách thức lớn đối với xã hội loài người. Sau các dịch bệnh lịch sử như cúm Tây Ban Nha (1918) khiến khoảng 500 triệu người mắc và 50 triệu người tử vong, vắc xin đã chứng minh vai trò thiết yếu giúp 85% – 95% người tiêm sinh ra miễn dịch đặc hiệu và cứu sống khoảng 2,5 triệu trẻ em mỗi năm trên toàn cầu. Trước sự bùng phát của đại dịch COVID-19 từ tháng 1/2020 (ghi nhận 306,5 triệu ca mắc trên toàn thế giới tính đến ngày 9/1/2022 theo Worldometers.info), các nước đã thúc đẩy phát triển vắc xin với 184 loại ở giai đoạn tiền lâm sàng, 105 loại ở giai đoạn lâm sàng và 18 loại được cấp phép khẩn cấp tính đến tháng 7/2021. Dù 3 tỷ liều đã được sử dụng vào giữa năm 2021, tâm lý hoài nghi và chần chừ tiêm chủng vẫn diễn ra phổ biến (tỷ lệ không có ý định tiêm ghi nhận ở Trung Quốc là 16,5%, Ý là 14%, Mỹ là 21%). Tại Việt Nam, trong bối cảnh giãn cách xã hội và chuyển đổi số, báo mạng điện tử (BMĐT) trở thành kênh thông tin chủ đạo tác động trực tiếp đến nhận thức của người dân và quá trình xã hội hóa vắc xin.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc truyền thông về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử.
  2. Tìm hiểu thực trạng đưa tin thông qua phân tích hình thức, nội dung các bài viết về vắc xin COVID-19 trên hai báo điện tử Vnexpress và Sức khỏe & Đời sống.
  3. Phân tích thái độ, cảm xúc và bình luận của công chúng đối với các thông tin được đăng tải.
  4. Đề xuất các khuyến nghị cụ thể đối với cơ quan quản lý báo chí, cơ quan báo chí, nhà báo và phóng viên nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông về vắc xin COVID-19.

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 3 nhóm nội dung:

  1. Thao tác hóa khái niệm, hệ thống hóa lý thuyết xã hội học và các chủ trương, chính sách pháp luật liên quan đến vắc xin ngừa COVID-19.
  2. Mô tả, phân tích thực trạng thông tin của hai trang báo qua ngôn từ, hình ảnh, thể loại, bối cảnh và quan điểm chuyển tải thông điệp.
  3. Đo lường phản hồi của công chúng qua hệ thống bình luận, từ đó rút ra các vấn đề đặt ra và đề xuất khuyến nghị.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Hình thức của các bài báo mạng điện tử được thể hiện như thế nào khi truyền thông về vắc xin COVID-19?
  2. Nội dung thông tin về vắc xin COVID-19 được thể hiện như thế nào trên các bài báo mạng điện tử?
  3. Công chúng bình luận như thế nào khi tiếp cận các thông tin về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử?

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thông tin về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.
  • Khách thể nghiên cứu: Các bài báo đề cập nội dung liên quan đến vắc xin COVID-19 được đăng tải trên báo điện tử Vnexpress và báo Sức khỏe & Đời sống.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các bài báo được xuất bản trong khoảng thời gian từ ngày 1/1/2021 đến ngày 31/12/2021 trên báo Vnexpress (vnexpress.net) và báo Sức khỏe & Đời sống (suckhoedoisong.vn).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết xã hội học và truyền thông được khóa luận vận dụng gồm:

  • Lý thuyết chức năng (Functionalism): Khóa luận sử dụng quan điểm cấu trúc - chức năng và lý thuyết của Robert K. Merton về chức năng công khai, chức năng tiềm ẩn và phản chức năng. Lý thuyết này được vận dụng để xem xét báo mạng điện tử như một thiết chế xã hội thực hiện 4 chức năng cơ bản: thông tin – giao tiếp; tư tưởng; khai sáng – giải trí; quản lý, giám sát và phản biện xã hội khi truyền thông về vắc xin.
  • Mô hình truyền thông của Harold Lasswell (1948): Mô hình 5 thành tố S-M-C-R-E (Source - Message - Channel - Receiver - Effect) tương ứng với 5 câu hỏi nghiên cứu về nguồn cung cấp tin tức (nhà báo, chuyên gia, bác sĩ, cơ quan quản lý), nội dung thông điệp vắc xin, kênh truyền tải (báo mạng điện tử), đối tượng tiếp nhận (công chúng độc giả) và hiệu quả tác động xã hội (nhận thức, thái độ, bình luận phản hồi).
  • Khung văn bản pháp luật và chính sách của Đảng, Nhà nước: Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 1/1/2021; Thông báo 22/TB-VPCP ngày 30/1/2021; Thông báo 266/TB-VPCP; Nghị quyết 21/NQ-CP ngày 26/2/2021 về mua và sử dụng vắc xin; Công văn 8688/BYT-DP về tiêm vắc xin cho trẻ từ 12 đến 17 tuổi; Quyết định 779/QĐ-TTg ngày 26/5/2021 thành lập Quỹ vắc xin phòng COVID-19; Quyết định 2995/QĐ-BYT về hướng dẫn khám sàng lọc; Quyết định 507/QĐ-TTg (bổ sung 1.237 tỷ đồng mua vắc xin); Quyết định 1022/QĐ-TTg (bổ sung 7.650,776 tỷ đồng mua 61 triệu liều vắc xin AstraZeneca và Pfizer); Quyết định 1404/QĐ-TTg (hỗ trợ 8.807 triệu đồng cho thử nghiệm lâm sàng vắc xin COVIVAC của IVAC); Công điện 1242/CĐ-BYT chấn chỉnh tiêm chủng miễn phí; Kế hoạch 271/KH-BYT; Kế hoạch 1063/KH-BYT; Quyết định 1980/QĐ-BYT; Thông báo 213/TB-VPCP và Thông báo 1689/TB-BYT.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích nội dung (Content Analysis): Kết hợp định lượng và định tính. Phân tích định lượng dùng để đo lường tần suất xuất hiện, số lượng bài, thể loại, chuyên mục, nguồn tin, dung lượng, hình ảnh và tỷ lệ tương tác. Phân tích định tính dùng để đánh giá quan điểm, nội dung thông điệp, bối cảnh phản ánh và sắc thái bình luận của độc giả.
  • Phương pháp chọn mẫu: Từ tổng thể 2.623 tin, bài tìm kiếm theo hệ thống từ khóa (vắc xin COVID-19, vaccine COVID-19, tiêm chủng COVID-19, tiêm phòng COVID-19, COVAX, AstraZeneca, Pfizer, Sinopharm, Vero Cell...) xuất bản từ 1/1/2021 đến 31/12/2021 trên hai trang báo, tác giả sử dụng công cụ Sample Size Calculator trên Classgist để xác định cỡ mẫu đại diện tối ưu là 347 bài. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách sắp xếp theo thời gian với bước nhảy K = 8.
  • Xử lý dữ liệu: Dữ liệu định lượng từ bảng mã khảo sát được nhập, làm sạch và xử lý thống kê trên phần mềm SPSS 20. Dữ liệu định tính được hỗ trợ xử lý bằng phần mềm NVivo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của nghiên cứu thông tin về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử

Chương này tập trung thao tác hóa các khái niệm nền tảng: thông tin (theo tiếp cận triết học - ngôn ngữ của Philippe Breton, Serge Proulx; lý luận báo chí của E. Prô Khô Rốp, PGS.TS Tạ Ngọc Tấn); truyền thông (định nghĩa của Martin P. Adelsm, Frank Dance, PGS.TS Vũ Đình Hòe, Trần Hữu Quang, Lương Khắc Hiếu); truyền thông đại chúng (quan điểm của Daniel Lerner, PGS.TS Lê Thanh Bình, Lưu Văn An, PGS.TS Phạm Hương Trà); báo mạng điện tử; dịch bệnh và đại dịch COVID-19; vắc xin và cơ chế miễn dịch (theo định nghĩa y khoa của Đoàn Hữu Thiển).

Chương 1 tổng thuật chi tiết các công trình đi trước, phân chia thành:

  • Nghiên cứu truyền thông về dịch bệnh và vắc xin trên báo chí: Luận văn của Nguyễn Trọng Tiến (2014), Lê Thị Kim Oanh (2015), Nguyễn Thị Lan Anh (2015), Nguyễn Thị Mỹ Tâm (2017), La Việt Phương và cộng sự (2020), GS.TS Nguyễn Thanh Long (2020), Nguyễn Thị Sơn Hà (2017), Nguyễn Thị Hà và cộng sự (2021).
  • Nghiên cứu về thông điệp truyền thông y tế trên báo mạng điện tử: Khảo sát của Phùng Thị Hồng (2017), Nguyễn Thị Hạnh (2017), Phạm Phương Anh (2020) và Nguyễn Thị Vân (2021).

Bên cạnh việc trình bày hệ thống quan điểm chỉ đạo của Đảng, các quyết định điều hành của Chính phủ và Bộ Y tế, chương 1 giới thiệu lịch sử hình thành, chức năng, mô hình vận hành của hai đơn vị khảo sát: Vnexpress (thành lập năm 2001 bởi Trương Đình Anh và Thang Đức Thắng, cấp phép năm 2002, đạt trung bình hơn 34 triệu lượt truy cập mỗi ngày, cập nhật 170 tin bài/ngày với 95% tự sản xuất, xếp hạng 4 website hàng đầu tại Việt Nam theo Alexa tháng 10/2021) và Báo Sức khỏe & Đời sống (tiền thân là báo Sức khỏe ra đời năm 1961, đổi tên năm 1995, trực thuộc Bộ Y tế, cơ quan ngôn luận chính thống của ngành y tế).

Chương 2: Hình thức và nội dung thông tin về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử

Chương 2 trình bày kết quả phân tích định lượng và định tính đối với mẫu khảo sát 347 bài viết.

Về hình thức:

  • Phân bổ mẫu: Vnexpress chiếm 205 bài (59,1%), Sức khỏe & Đời sống chiếm 142 bài (40,9%).
  • Nguồn bài: 72% tổng số bài do báo tự sản xuất, 28% dẫn lại từ nguồn khác. Tỷ lệ dẫn lại của Vnexpress là 41,5% (chủ yếu từ các hãng thông tấn quốc tế: Reuters 13 bài, AFP 11 bài, The New York Times 8 bài, The Washington Post 7 bài), cao gấp gần 5 lần báo Sức khỏe & Đời sống (chỉ chiếm 8,5%).
  • Bối cảnh phản ánh: 57,9% bài viết đề cập bối cảnh trong nước (201 bài), 33,7% đề cập bối cảnh quốc tế (117 bài), và 10,4% không xác định bối cảnh cụ thể (36 bài). Sức khỏe & Đời sống tập trung sâu vào nội địa (101/142 bài), trong khi Vnexpress cân bằng giữa bối cảnh trong nước (93 bài) và quốc tế (90 bài).
  • Chuyên mục: Báo Sức khỏe & Đời sống đăng tải tập trung nhiều nhất ở chuyên mục Y tế (58,4%), trong khi Vnexpress đăng tải chủ yếu tại chuyên mục Sức khỏe (44,4%). Khác biệt đáng kể nằm ở chuyên mục Thế giới khi Vnexpress dành 24,4% dung lượng bài cho chuyên mục này, còn Sức khỏe & Đời sống chỉ chiếm 1,4%.
  • Hệ thống biến số hình thức khác được phân tích bao gồm: thể loại báo chí (tin, phóng sự, phỏng vấn, bình luận...), kết cấu tiêu đề (tiêu đề chứa từ khóa, tiêu đề sự kiện, câu hỏi, biểu cảm), tần suất và đối tượng xuất hiện trong ảnh báo chí, nguồn ảnh và chủ thể phát ngôn trong bài.

Về nội dung thông tin: Khóa luận xây dựng hệ thống 7 chiều cạnh nội dung:

  1. Thông tin chung về nguồn gốc, loại vắc xin, liều lượng, khoảng cách giữa các mũi, hiệu lực bảo vệ, chỉ định và chống chỉ định theo hướng dẫn của WHO và Bộ Y tế.
  2. Thông tin chính sách, văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Ban Chỉ đạo Quốc gia và Bộ Y tế, phân tích đối tượng thực hiện và sắc thái từ ngữ.
  3. Hoạt động điều chế, thử nghiệm lâm sàng và sản xuất trong nước, theo dõi các đơn vị sản xuất nội địa gồm Nanogen, Vabiotech, IVAC, Polyvax, vấn đề bảo hộ sáng chế và chiều hướng đánh giá tích cực/tiêu cực.
  4. Hoạt động mua bán, đàm phán ngoại giao vắc xin, tiếp nhận tài trợ quốc tế (WHO, COVAX, Mỹ, Anh, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Cuba) và việc thành lập, vận hành Quỹ vắc xin phòng COVID-19.
  5. Thực tiễn tổ chức chiến dịch tiêm chủng, quy trình chuẩn bị, số liệu người tiêm và các trường hợp phản ứng nặng hoặc tử vong sau tiêm.
  6. Kiến thức y khoa, lưu ý chuyên môn trước và sau tiêm từ đội ngũ chuyên gia, y bác sĩ.
  7. Tiếp nhận, xác thực và giải tỏa các thông tin tranh cãi, hoài nghi, tin đồn thất thiệt liên quan đến tác dụng phụ hoặc tính an toàn của vắc xin.

Chương 3: Bình luận của công chúng và những vấn đề đặt ra đối với các bài viết về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử

Chương này đánh giá phản hồi xã hội của độc giả qua tính năng tương tác bình luận dưới bài viết:

  • Khảo sát số lượng bài viết có phát sinh bình luận, phân loại các dạng bình luận phổ biến: góp ý xây dựng; đặt câu hỏi/thắc mắc về kỹ thuật tiêm chủng, phản ứng sau tiêm; bày tỏ cảm xúc và thái độ xã hội.
  • Đo lường trạng thái cảm xúc của công chúng: tỷ lệ bình luận đồng tình, ủng hộ chính sách; phản đối; khen ngợi; gửi lời cảm ơn đội ngũ tuyến đầu; băn khoăn; lo lắng về tác dụng phụ và sự an toàn của các loại vắc xin.
  • Phân tích tương quan giữa cách đặt thông điệp từ tiêu đề bài viết với dạng bình luận và thái độ cảm xúc tiếp nhận của công chúng độc giả.
  • Chỉ ra những khoảng trống thông tin và các vấn đề xã hội học đặt ra: sự chênh lệch trong việc cung cấp thông tin chuyên sâu; mức độ giải đáp kịp thời các thắc mắc chuyên môn; cách xử lý khủng hoảng truyền thông trước các tin đồn tiêu cực; trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp của nhà báo khi phản ánh các vấn đề y tế cộng đồng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các số liệu so sánh thực trạng đưa tin giữa hai cơ quan báo chí trong năm 2021 qua các chỉ số mẫu:

Tiêu chí khảo sát Báo Vnexpress Báo Sức khỏe & Đời sống Toàn bộ mẫu khảo sát
Số lượng tin, bài trong mẫu (N = 347) 205 bài (59,1%) 142 bài (40,9%) 347 bài (100%)
Tỷ lệ bài tự sản xuất 58,5% 91,5% 72,0%
Tỷ lệ bài khai thác/dẫn lại từ nguồn khác 41,5% 8,5% 28,0%
Bài viết phản ánh bối cảnh Việt Nam 93 bài (45,4%) 101 bài (71,1%) 201 bài (57,9%)
Bài viết phản ánh bối cảnh quốc tế 90 bài (43,9%) 26 bài (18,3%) 117 bài (33,7%)
Chuyên mục xuất hiện nhiều nhất Sức khỏe (44,4%) Y tế (58,4%) Sức khỏe / Y tế
Tỷ lệ bài ở chuyên mục Thế giới 24,4% 1,4% -

Các kết quả và phát hiện chính:

  • Báo chí đã thực hiện hiệu quả chức năng thông tin - giao tiếp và chức năng tư tưởng, phổ biến kịp thời các quyết sách lớn của Nhà nước (như Nghị quyết 21/NQ-CP, Quỹ vắc xin phòng COVID-19, hướng dẫn sàng lọc tiêm chủng).
  • Có sự khác biệt rõ rệt về định hướng nội dung: Báo Sức khỏe & Đời sống đóng vai trò cơ quan ngôn luận ngành y tế, tập trung gần như tuyệt đối vào dữ liệu trong nước (71,1%), bám sát chỉ đạo của Bộ Y tế và tự sản xuất bài viết (91,5%). Trong khi đó, Vnexpress phát huy thế mạnh của một báo điện tử đa mục tiêu, cân đối giữa góc nhìn quốc tế (43,9%) và nội địa (45,4%), đẩy mạnh dẫn nguồn từ các hãng thông tấn lớn nhằm đem lại cái nhìn toàn cầu.
  • Đề tài ghi nhận sự tương tác đa chiều của bạn đọc thông qua bình luận; tiêu đề và nội dung bài viết đóng vai trò định hướng trực tiếp đến tâm lý giải tỏa lo âu hoặc gia tăng băn khoăn của người dân trước các sự kiện tiêm chủng.

Giải pháp và khuyến nghị tác giả đề xuất:

  • Đối với cơ quan quản lý báo chí: Tăng cường định hướng luồng tin thống nhất, chủ động cung cấp dữ liệu y khoa minh bạch để báo chí làm điểm tựa phản bác tin đồn thất thiệt.
  • Đối với các tòa soạn báo mạng điện tử: Cân đối giữa tin tức thời sự nóng và các bài viết phân tích chuyên sâu; đa dạng hóa hình thức thể hiện (infographic, phỏng vấn chuyên gia); tăng cường khâu kiểm duyệt và phản hồi các thắc mắc của độc giả trong phần bình luận.
  • Đối với nhà báo, phóng viên y tế: Nâng cao kiến thức chuyên môn về dịch tễ và sinh phẩm y tế; cẩn trọng trong việc giật tít, diễn đạt ngôn từ để tránh gây hoang mang dư luận.

Đóng góp của khóa luận:

  • Về lý luận: Đề tài là công trình nghiên cứu xã hội học truyền thông hệ thống hóa việc vận dụng lý thuyết chức năng và mô hình truyền thông Lasswell vào phân tích thông điệp y tế khẩn cấp tại Việt Nam.
  • Về thực tiễn: Đây là một trong những nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên khảo sát toàn diện thực trạng thông tin về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử tại Việt Nam trong giai đoạn cao điểm dịch bệnh năm 2021, cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự khác biệt giữa báo cơ quan ngôn luận chuyên ngành và báo mạng tổng hợp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được tác giả thẳng thắn chỉ ra các giới hạn nghiên cứu:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu dựa vào tìm kiếm theo danh mục từ khóa định trước trên hai trang web, do đó có thể bỏ sót những bài viết phản ánh về vắc xin COVID-19 nhưng không chứa các từ khóa được lựa chọn.
  • Mẫu khảo sát định lượng gồm 347 bài được rút ra từ tổng thể 2.623 bài (chiếm tỷ lệ 13,2%). Mặc dù đảm bảo kích thước mẫu theo công thức tính toán khoa học, tác giả thừa nhận các phát hiện chính mang tính đặc trưng cho mẫu nghiên cứu, chưa thể đại diện hoàn toàn tuyệt đối cho toàn bộ tổng thể bài viết đã xuất bản.
  • Hướng mở tiếp theo: Mở rộng phạm vi khảo sát sang các nền tảng mạng xã hội, các trang báo điện tử địa phương hoặc kéo dài khung thời gian sang giai đoạn tiêm chủng nhắc lại và tiêm chủng cho trẻ em ở các lứa tuổi nhỏ hơn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu thuộc các ngành Xã hội học, Báo chí học, Truyền thông đa phương tiện và Y tế công cộng đang tìm kiếm phương pháp luận kết hợp định tính - định lượng trong phân tích nội dung thông điệp báo chí.
  • Biên tập viên, phóng viên theo dõi mảng y tế - xã hội tại các cơ quan báo chí nhằm nắm bắt tâm lý công chúng và kỹ năng xử lý thông tin khủng hoảng sức khỏe.
  • Các nhà quản lý chính sách truyền thông y tế thuộc Bộ Y tế và các cơ quan ban ngành liên quan trong việc xây dựng chiến lược truyền thông vận động tiêm chủng và kiểm soát thông tin y tế trên không gian mạng.

Phần đáng tham khảo nhất trong công trình là bảng mã hóa biến số (chương 1 và phụ lục) cùng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống (K = 8), cung cấp một khung công cụ chi tiết để đo lường các thuộc tính hình thức, nội dung và tương tác của báo mạng điện tử.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tác giả thực hiện khảo sát trên những cơ quan báo chí nào và trong khung thời gian bao lâu? Khảo sát được thực hiện trên hai trang báo mạng điện tử là Vnexpress (vnexpress.net) và Báo Sức khỏe & Đời sống (suckhoedoisong.vn) trong toàn bộ năm 2021, từ ngày 1/1/2021 đến ngày 31/12/2021.

  2. Tổng thể dữ liệu và quy mô mẫu nghiên cứu được xác định như thế nào? Từ tổng thể 2.623 tin, bài liên quan đến vắc xin COVID-19 được tìm kiếm trên hai báo, tác giả sử dụng phần mềm Sample Size Calculator trên trang web Classgist để xác định cỡ mẫu tối ưu là 347 bài, sau đó chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với bước nhảy K = 8.

  3. Có sự khác biệt nào về tỷ lệ bài tự sản xuất và dẫn lại giữa hai tờ báo? Trong mẫu khảo sát, 72% tổng số bài do báo tự viết và 28% dẫn lại từ nguồn khác. Trong đó, báo Vnexpress dẫn lại từ báo/trang tin quốc tế chiếm tới 41,5% (chủ yếu từ Reuters, AFP, New York Times, Washington Post), cao gấp gần 5 lần so với báo Sức khỏe & Đời sống (chỉ dẫn lại 8,5%).

  4. Những khung lý thuyết xã hội học và truyền thông chính nào được áp dụng? Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết chức năng (đặc biệt là quan điểm của Robert K. Merton về chức năng công khai, tiềm ẩn, phản chức năng và 4 chức năng của báo chí) cùng Mô hình truyền thông 5 thành tố S-M-C-R-E của Harold Lasswell (1948).

  5. Những nhà sản xuất vắc xin COVID-19 nào của Việt Nam được đưa vào hệ thống biến số nghiên cứu nội dung? Bảng mã của khóa luận theo dõi 4 đơn vị sản xuất vắc xin COVID-19 tại Việt Nam gồm: Nanogen, Vabiotech, IVAC và Polyvax.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Vân Anh là một công trình nghiên cứu xã hội học truyền thông được xây dựng bài bản, phản ánh thực trạng thông tin về vắc xin COVID-19 trên hai cơ quan báo mạng điện tử tiêu biểu tại Việt Nam trong năm 2021. Thông qua phương pháp phân tích nội dung trên mẫu 347 bài viết và hệ thống bình luận của độc giả, tác giả đã chỉ rõ sự khác biệt trong phương thức tác nghiệp giữa báo chuyên ngành y tế và báo điện tử đa mục tiêu. Kết quả nghiên cứu không chỉ lượng hóa diện mạo truyền thông y tế trong giai đoạn dịch bệnh căng thẳng mà còn cung cấp những khuyến nghị thực tế nhằm hoàn thiện hoạt động truyền thông chính sách và định hướng dư luận xã hội.