phần mở đầu và kết luận, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương: Chƣơng 1: Thơ Triệu Kim Văn trong thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. Chƣơng 2: Hệ thống biểu tượng trong thơ Triệu Kim Văn. Chƣơng 3: Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật trong thơ Triệu Kim Văn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 THƠ TRIỆU KIM VĂN TRONG THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1.
Tiểu sử và quan điểm sáng tác 1. Tiểu sử Tiểu sử đầy đủ và chân thật nhất của một nhà thơ nằm ngay trong chính tác phẩm của nhà thơ đó. Do vậy, những điều mà một nhà thơ tự viết về mình bao giờ cũng là một nguồn tư liệu quan trọng và đáng tin cậy để tìm hiểu tác giả ấy. “Tôi tự hào là đứa con của đại ngàn, với những cánh rừng nguyên sinh âm u, mây buông sương ủ, nơi núi đá tai mèo dựng đứng như bờm ngựa chiến.
Tôi sinh ra trên tay người mẹ nghèo hiền lành, buổi chập chững theo các anh chị lên nương ngơ ngác nghe kể đầy gùi cổ tích. Đó là những lời của nhà thơ dân tộc Dao đỏ Triệu Kim Văn - nhà thơ người Dao đầu tiên của Bắc Kạn đang tự viết về mình. Có thể nói, sau Bàn Tài Đoàn, tên tuổi Triệu Kim Văn đã góp phần làm phong phú thêm cho đời sống thơ ca dân tộc Dao nói riêng và thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nói chung. Triệu Kim Văn (bút danh Hoa Sơn) sinh ngày 14.1945 ở vùng quê Cao Sơn, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
Vùng đất ấy với “núi cao sừng sững như đỡ lấy bầu trời, nơi bản làng ẩn trong mây núi bao phủ, nơi có những bài láu ton (hát ru) độc đáo”.[28] vừa là môi trường sống, vừa là không gian văn hóa nuôi dưỡng tâm hồn con người, vừa là nguồn cảm hứng trong các sáng tác của Triệu Kim Văn. Mười ba tuổi Triệu Kim Văn biết nói tiếng Kinh, lúc này ông đi học tại trường thiếu nhi vùng cao Việt Bắc. Ông tâm sự: Thuở ấy mọi người đặt cho ông biệt danh “con mọt sách” vì khi ông biết tiếng Kinh ông đã đọc rất nhiều, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ cả kho sách văn học của thư viện nhà trường đều được ông đọc bằng hết. Học hết lớp 7, ông tiếp tục sang trường Bổ túc Công - Nông học lớp 8, sau đó ông học sư phạm và giảng dạy tại trường trung cấp Công nghiệp nhẹ của Bộ công nghiệp.
Năm 1973 ông thi vào đại học tổng hợp Hà Nội, ra trường ông về công tác tại Ban dân tộc tỉnh ủy Bắc Thái, rồi công tác tại huyện ủy Bạch Thông. Đến năm 1997, ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam. Từ đó, ông hoạt động chuyên bên văn học nghệ thuật và giữ chức chủ tịch hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn cho đến lúc nghỉ hưu. Cuộc đời Triệu Kim Văn là một minh chứng sống động cho sự nỗ lực tự vượt lên chính mình, bằng nền tảng là cội nguồn cốt cách văn hóa của dân tộc Dao để hòa mình vào dòng chảy chung của đời sống văn hóa – văn học Việt Nam.
Trong suốt cuộc đời sáng tạo nghệ thuật không ngừng nghỉ của mình, dù ở đâu, dù lúc nào, dù làm gì, nhà thơ Triệu Kim Văn vẫn luôn như một con chim của núi rừng, uống nước khe ngậm lúa nương mà hót lên những bài ca của quê hương xứ sở. Quan điểm sáng tác. Dù đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng và ghi nhận trong sáng tác thơ ca, nhưng khi được hỏi về quan điểm sáng tác thì nhà thơ Triệu Kim Văn khiêm tốn: “Tôi chưa bao giờ nhận mình là nhà thơ”. Suy nghĩ về nghề văn, ông cho rằng: “Sáng tác là một phần của cuộc sống.
Và thơ là tình yêu, là nhịp đập của trái tim”.64] Đến với thơ, Triệu Kim Văn chỉ nghĩ đơn giản và chân thành: Thơ là tiếng nói của tâm hồn, nghĩ sao thì nói vậy, chỉ đơn giản thế thôi. Là người “Con của núi”, ông nghĩ về sứ mạng cao cả của thơ ca thật mộc mạc. Suy nghĩ ấy được thể hiện khá rõ qua bài “Thơ củi”. Trong bài, ông ví mình như cây củi và luận bàn về các thứ củi: Củi gộc, củi mòn, củi cành và cả củi mục để rồi đi đến khẳng định về một thứ thơ gần gũi với cuộc sống, phục vụ cuộc sống.: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ “Củi tôi hái từ con tim/ Cánh rừng con tim rộng dài không đo được/ Lửa cháy hết rồi tôi ngồi khóc/ Nhớ chàng mồ côi kiếm củi đổi hạt kê… /Câu thơ tôi cùng lầm lụi chốn quê”.
Thật đúng với lời nhận xét của Mai Liễu: “Triệu Kim Văn là thế, không vồ vập, kiểu cách. Cứ lặng lẽ trong đời mà lại làm được ít nhiều sự xáo trộn trong thơ.218] Những lời bộc bạch tâm tình trong bài thơ trên là một âm bản đáng tin cậy nhất để người đọc hiểu về quan niệm sáng tác của nhà thơ, một quan niệm giản dị, chân thành và sâu sắc. Suy cho cùng, giản dị chính là tận cùng của mọi mĩ học. Quan niệm thẩm mĩ ấy sẽ là ngọn đuốc bền bỉ trên con đường sáng tạo đầy chông gai thử thách nhưng cũng đầy hạnh phúc của nhà thơ Triệu Kim Văn.
Quá trình sáng tác và các giải thƣởng. Tuy âm thầm lặng lẽ và giản dị trong lao động sáng tạo, nhưng Triệu Kim Văn đã có cho mình một gia sản thơ ca rất đáng trân trọng. Đây là kết quả của sự nỗ lực bền bỉ, của tài năng và tâm hồn một ý thức sáng tạo đầy tâm huyết. Chặng đường sáng tác văn học của Triệu Kim Văn bắt đầu từ khi ông theo học “cái chữ”.
Là người yêu thích văn chương và ham mê sáng tác nên người con của núi này đã đến với thơ ca thật tự nhiên. Những đứa con tinh thần – sản phẩm đầu tay đã chào đời khi chàng trai người Dao này đang ở độ hai mươi. Năm năm sau, khi thấy những tác phẩm của mình đã đủ độ chín nhà thơ mới ra mắt người đọc bài thơ đầu tiên: “Nhớ Bác ta trồng nhiều cây” (Báo Việt Nam độc lập). Từ đó, ông viết nhiều, viết đều, viết khỏe, nhưng chủ yếu là đăng trên báo và tạp chí.
Mãi đến năm 1989 ông mới ra mắt tập thơ đầu tiên: “Hoa núi”. Với lòng yêu văn chương và sự hăng say, miệt mài trong lao động nghệ thuật, đến nay Triệu Kim Văn đã xuất bản 10 tập thơ: Hoa núi (1989) Mùa sa nhân (1994) Lá tìm nhau (1999) Con của núi (Thơ song ngữ Dao- Việt 2002) Lửa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ của mồ côi (2002) Lối cỏ (2004) Hoa nắng (Thơ thiếu nhi 2010) Suối nguồn du du (Thơ song ngữ Dao- Việt 2010) Trời về (2010 ) Sợi mưa hiền (2011) Quá trình phấn đấu không miệt mài của Triệu Kim Văn đã tạo nên những tác phẩm mang đậm bản sắc dân tộc và phong cách sáng tác của riêng mình. Ông đã vinh dự nhận được nhiều giải thưởng như: Giải thưởng chính thức của Ban văn học dân tộc Hội nhà văn Việt Nam cho tập thơ “Mùa sa nhân” (1997), giải thưởng của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho tập thơ “Con của núi” (2002), giải thưởng của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho tập thơ “Trời về” (2010). Huy chương vì sự nghiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Huy chương vì sự nghiệp văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam.
Đây là những ghi nhận xứng đáng cho một tài năng, một hồn thơ đẫm cốt cách của dân tộc Dao. Thơ Triệu Kim Văn trong thơ dân tộc thiểu số văn học Việt Nam hiện đại Với một đời sống văn hóa phong phú, sống động, đa sắc diện, Việt Nam có một nền văn học đa dạng, nhiều dòng, nhiều mảng khối. Bên cạnh sự hình thành và phát triển của thơ ca dân tộc Kinh (Việt) đạt đến đỉnh cao với nhiều tác giả, tác phẩm tiêu biểu thì còn tồn tại song hành một mảng thơ ca không kém phần đặc sắc mà hiện nay đang thu hút được sự quan tâm tìm hiểu của các nhà nghiên cứu, đó là mảng thơ ca của các dân tộc thiểu số. Đây là một thế giới hấp dẫn, bí ẩn, giàu sức mời gọi, đang chờ đợi sự khám phá đầy hứa hẹn.
Một bộ phận khá nổi bật trong thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam là thơ ca dân tộc Tày. “Theo nhà thơ Hoàng Triều Ân thì từ thế kỷ thứ V, người Tày đã có thơ viết bằng chữ Hán với tác phẩm “Cố hương từ” - Lê Thế Khanh (394- 460), người tổng Nhượng Bản, châu Thạch Lâm (nay là xã Bình Long, huyện Hòa An) tỉnh Cao Bằng” [45. Đến cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII có Bế Văn Phụng (1567- 1637) và Nông Quỳnh Vân (1566- 1640) cũng là người Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Tày ở Cao Bằng nổi tiếng là hay chữ và sáng tác thơ ca bằng chữ Nôm - Tày. Sau này đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất hiện thêm các tác giả dân tộc Tày sáng tác thơ bằng chữ Hán như: Hà Vũ Bằng, Bế Ích Bồng, Nông Đình Cấp, Lê Văn Dự.
Đặc biệt trong đó có Hoàng Đức Hậu (1890- 1945) sáng tác cả ba thứ tiếng: Tày, Việt, Hán. Điều đáng nói là những sáng tác của Hoàng Đức Hậu không chỉ ảnh hưởng đến những người làm thơ cùng thời, mà những nhà thơ sau này như Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Triều Ân, Y Phương, Dương Thuấn. cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ. Cũng vào khoảng cuối thế kỷ XIX còn xuất hiện một số nhà thơ dân tộc Thái như: Ngầu Văn Hoan và Lò Văn Thứ.
Đặc biệt là Ngầu Văn Hoan, với lời thơ gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của dân tộc đã đưa văn học dân tộc Thái lên đỉnh cao mới, làm cho thơ ca dân tộc Thái phong phú, trong sáng và giàu hình tượng hơn. Giai đoạn 1930- 1945, một mảng thơ cách mạng của các dân tộc thiểu số ra đời cùng với thơ cách mạng của cả nước. Các tác giả tiêu biểu như: Hoàng Văn Thụ, Lê Quảng Ba, Hoàng Đình Giang, Dương Công Hoạt. Họ là những chiến sĩ người dân tộc thiểu số hoạt động cách mạng, vừa là người đem hiện thực cách mạng vào những trang thơ.
Cách mạng Tháng Tám thành công, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thần thánh của dân tộc ti nguồn cảm hứng cho thơ ca Việt Nam, trong đó có thơ ca các dân tộc thiểu số.