Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2. Cảm hứng nghệ thuật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái Chương 3. Cốt truyện và nhân vật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái Chương 4.
Người kể chuyện và ngôn ngữ nghệ thuật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Môi trường địa - văn hóa và loại hình tự sự văn học dân tộc Thái ở Việt Nam 1. Môi trường địa - văn hóa của dân tộc Thái ở Việt Nam 1. Đặc điểm địa lí tự nhiên và nguồn gốc lịch sử dân tộc * Đặc điểm địa lí tự nhiên Dân tộc Thái ở Việt Nam cƣ trú chủ yếu ở vùng Tây Bắc.
Về mặt địa giới hành chính, vùng văn hóa Tây Bắc “bao gồm các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, một phần của Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái và miền núi các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An” [113, tr. Đây là vùng rừng núi điệp trùng hiểm trở với những ngọn núi cao nhất nƣớc (nhƣ Phanxipăng, Yam Phình. Xen giữa những dãy núi trùng điệp là các cao nguyên rộng lớn (Mộc Châu, Tả Phình,…) và những cánh đồng lòng chảo nổi tiếng từng đi vào câu tục ngữ: “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Tấc, tứ Than”. Hệ thống sông suối của Tây Bắc khá dày đặc.
Do ảnh hƣởng của địa hình nên dòng chảy của các sông suối ở Tây Bắc thƣờng đột ngột và dữ dội, đặc biệt là vào mùa mƣa. Khí hậu nơi đây là khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt. Một năm có thể chia ra hai mùa chính: mùa nóng và mƣa, mùa rét và hanh khô. Vào mùa rét, nhiệt độ có khi hạ xuống đến mức dƣới 00C (nhiệt độ âm) gây ra hiện tƣợng băng tuyết.
Vào mùa nóng, nhiệt độ có thể lên tới 390C và mỗi tiểu vùng lại có những kiểu khí hậu khác nhau. Khí hậu khắc nghiệt cùng với địa hình núi non hiểm trở khiến vùng Tây Bắc xƣa từng bị coi là vùng “rừng thiêng nƣớc độc”. Ngƣời xƣa có câu “Nƣớc Sơn La, ma Hòa Bình” nhằm nói về cái dữ dội của thiên nhiên nơi đây. Tuy có địa hình phức tạp song về tổng thể, có thể ví vùng Tây Bắc rộng lớn nhƣ “một ngôi nhà lớn có hai tầng: tầng 1 (vùng thấp), tầng 2 (vùng cao).
Vùng thấp là vùng cƣ trú chính của các dân tộc Thái, Mƣờng, Lào, Lự, nhƣng gƣơng mặt văn hóa vùng thấp Tây Bắc là văn hóa Thái” [113, tr. Vùng cao là nơi cƣ trú của các dân tộc Mông, Dao, Hà Nhì, Si La, Khơ Mú. Gƣơng mặt văn hóa vùng cao là văn hóa Mông. 8 Sống trong một vùng địa lí tự nhiên khắc nghiệt, hiểm trở nhƣng cũng rất thơ mộng, trữ tình, đồng bào các DTTS Tây Bắc, trong đó có ngƣời Thái, đã sớm biết cách chung sống hài hòa với tự nhiên, khai thác các nguồn lợi từ nó để phục vụ cho cuộc sống.
Ở chiều ngƣợc lại, những đặc điểm riêng về địa lí tự nhiên của vùng cũng để lại những dấu ấn đậm nét và ảnh hƣởng lớn đến tập quán cƣ trú, canh tác, lối sống và văn hóa tộc ngƣời. * Nguồn gốc lịch sử dân tộc Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và những ghi chép trong các tập sử thi của ngƣời Thái thì họ là cƣ dân cổ của vùng Tây Nam và Vân Nam (Trung Quốc). Từ đó, họ thiên di vào Tây Bắc Việt Nam theo nhiều đợt kể từ thế kỉ VII đến thế kỉ XIV, trong đó có 3 đợt thiên di lớn vào thế kỉ IX đến thế kỉ XI. Cũng có ý kiến cho rằng, ngành Thái Trắng và bộ phận Thái Đen Mƣờng Thanh có nguồn gốc bản địa (tổ tiên của họ là ngƣời Tày - Thái cổ).
Vào đầu thiên niên kỉ I CN, tổ tiên ngƣời Tày - Thái cổ dã từng tham gia vào việc xây dựng quốc gia Âu Lạc của Thục An Dƣơng Vƣơng, sau đó, một bộ phận di cƣ sang phía tây, tách khỏi bộ phận gốc là ngƣời Tày hiện nay. Còn bộ phận Thái Đen có mặt tại Mƣờng Lò (Văn Chấn, Yên Bái) là con cháu của Tạo Xuông, Tạo Ngần gốc từ Vân Nam, Trung Quốc di cƣ sang (vì thế ngƣời Thái Đen ở Thuận Châu luôn coi Mƣờng Lò là “quê cha, đất tổ”). Ở Việt Nam, ngƣời Thái phân chia thành hai ngành: Thái Đen [Tay (Thay) Đăm] và Thái Trắng [Tay (Thay) Khao hay Đón]. Từ rất lâu, nhóm Thái Đen đã theo nếp cũ coi mình thuộc dòng tộc mẹ, mang biểu tƣợng rồng ở nƣớc kết hợp với dòng tộc cha mang biểu tƣợng chim én ở cạn (núi).
Ngƣời Thái Trắng coi mình thuộc dòng dõi mẹ - chim - cạn (núi) kết hợp với cha - rồng - nƣớc [142, tr. Dân số của cộng đồng ngƣời Thái là 1.423 ngƣời [23, tr. Đặc trưng văn hóa dân tộc * Văn hóa vật chất Là chủ nhân của vùng thấp Tây Bắc, cuộc sống của ngƣời Thái gắn liền với núi rừng, với những dòng sông, con suối. Chính địa bàn cƣ trú này đã tạo ảnh hƣớng lớn và để lại những dấu ấn đậm nét trong văn hóa dân tộc.
Trải qua hàng ngàn năm khai thác tự nhiên Tây Bắc, ngƣời Thái đã tạo đƣợc hệ sinh thái nhân văn thƣờng đƣợc gọi là “văn hóa thung lũng”. 9 Ngƣời Thái ở Việt Nam là cƣ dân nông nghiệp, sống bằng nghề làm ruộng nƣớc là chính. Kĩ thuật trồng lúa của ngƣời Thái đạt đến trình độ cao so với nhiều DTTS anh em khác. Bên cạnh việc trồng cấy lúa nƣớc, ngƣời Thái còn có tập quán làm nƣơng rẫy.
Ngoài làm ruộng và nƣơng, ngƣời Thái còn chăn nuôi (trâu, bò, lợn, gà, cá ruộng,…), săn bắn (muông thú), hái lƣợm (lâm thổ sản, rau, măng,…) và đánh cá (ở các sông, suối). Để tự cung tự cấp, các gia đình Thái trƣớc đây đều làm nghề thủ công. Hầu hết đàn ông đều biết đan lát, làm đồ dùng cho nông nghiệp, đánh cá. Theo tập quán, ngƣời con gái Thái, khi lấy chồng phải mang theo của hồi môn bắt buộc là chăn, đệm, gối cho gia đình nhà chồng.
Vì vậy, con gái Thái học dệt từ rất sớm. Phụ nữ Thái nổi tiếng trong việc dệt vải thổ cẩm và thêu thùa với những mặt hàng tinh xảo mang đậm bản sắc dân tộc. Đối với ngƣời Thái, nếp là lƣơng thực chính. Hiện nay, ngƣời Thái đã bắt đầu có thói quen ăn tẻ.
Mặc dù vậy, đối với họ, “nếp vẫn là thứ lƣơng thực lí tƣởng, đồng thời vẫn là vật đặc trƣng cho văn hóa tộc ngƣời” [178, tr. Ngƣời Thái ƣa dùng đồ nƣớng. Trong các món ăn của ngƣời Thái, cá có một vị trí quan trọng. Ngoài ra, khi nói tới phong tục ẩm thực của ngƣời Thái không thể không nhắc tới rƣợu.
Rƣợu là thức uống trong các dịp vui buồn và là vật tƣợng trƣng của các nghi thức. Do đó, trong cuộc sống, với ý nghĩa nào đó, dân tộc này đã xem nó nhƣ một thức uống cần thiết hàng đầu, dùng quanh năm, ngang tầm với cơm (lảu khảu), trong đó nổi tiếng nhất là rƣợu cần (lảu xá). Theo ngƣời Thái, cuộc sống sung túc lí tƣởng là đạt tới mức nhƣ câu tục ngữ đã tổng kết: “Đi, ăn cá; về, uống rƣợu; đêm đến đắp chăn nằm đệm” (pay, kin pa; ma, kin lảu; tảu, non xứa hốm ha). Theo truyền thống xƣa thì ngƣời Thái ở nhà sàn.
Điều đặc biệt của kiến trúc nhà sàn cổ của ngƣời Thái là không phải dùng đến một mẩu sắt nhỏ nào trong thiết kế. Thay vào đó là cả một hệ thống dây chằng, buộc, thắt khá công phu và tinh xảo bằng lạt tre, giang và mây hoặc vỏ những cây chuyên dùng đƣợc gọi là hu, xa, năng, xiều. Nhìn vào cấu trúc mái, ta có thể phân biệt kiểu nhà sàn của từng nhóm địa phƣơng khác nhau. Nhà sàn của ngƣời Thái Đen và Thái Trắng ở Mộc Châu, Sơn La thì có mái “vòm khum mai rùa” (tụp môn, côm, xlăng táu) và thƣờng đặt ở hai đầu hồi hình biểu tƣợng tạc bằng gỗ quét vôi trắng hai thanh tre, tựa nhƣ hai đôi 10 sừng gọi là khau cút.
Nhà sàn của ngƣời Thái Trắng ở Mƣờng Lay, Mƣờng Tè, Phong Thổ (Lai Châu) do có mặt phẳng cắt hình chữ nhật gần vuông nên có 4 mái thẳng và gấp góc (tụp lặt). Nhà sàn của ngƣời Thái ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An có mái thấp, lòng nhà hẹp, có dáng gần với nhà sàn của ngƣời Mƣờng. Việc bố trí không gian ở trong ngôi nhà sàn của ngƣời Thái tuân theo những quy định hết sức chặt chẽ. Nếu phân đôi bổ ngang theo chiều quá giang, ngôi nhà đƣợc chia thành hai nửa là bên quản và bên chan.
Theo quy định và phong tục, bên quản dành chủ yếu cho các sinh hoạt đàn ông, khách quen; bên chan dành chủ yếu cho các sinh hoạt của phụ nữ, gắn với các công việc nội trợ. Nếu phân đôi không gian dọc theo chiều đòn nóc, nhà sàn đƣợc chia thành 2 phần quy định tập quán đặt nơi ngủ. Đó là “mé đầu” hay “phía trên” của thân nhà quay đầu về sƣờn núi dùng để đặt hƣớng đầu khi ngủ; còn “mé chân” hay “phía dƣới” hƣớng về phía cánh rừng, dòng suối, sông con dùng để duỗi chân. Đối với ngƣời Thái, nếp nhà sàn không chỉ là một đơn vị không gian chứa đựng một tế bào của xã hội (nên ngƣời Thái mới gọi là “cộng đồng nhà” (chua hƣơn) hay mang ý niệm là “nơi chứa đựng cộng đồng những ngƣời thuộc dòng máu cha” [178, tr.
124] (nên có tên “nhà tông - nhà cúng” (hƣơn đẳm - hƣơn pang) mà còn là không gian chứa đựng văn hóa tâm linh. So với nam giới, trang phục nữ của ngƣời Thái đƣợc cho là độc đáo vì đã làm tăng vẻ đẹp trời ban của ngƣời con gái. Lê Ngọc Thắng đã có lí khi nhận xét rằng y phục Thái nổi tiếng “bởi sự hài hòa giữa cái che và cái phô ra, giữa cái giản dị mà không kém phần lộng lẫy” [178, tr. Phụ nữ của hai ngành Thái là Đen và Trắng đều mặc váy đen, áo ngắn (xửa cỏm).
Áo cỏm đƣợc may khéo léo ôm bó sát ngƣời làm tôn vẻ đẹp khỏe mạnh, tự nhiên và vóc dáng “thắt đáy lƣng ong” của cơ thể. Dọc hai đƣờng viền vạt áo có khuy cài bằng bạc hình bƣớm hoặc ve. Điểm khác biệt trong chiếc áo của phụ nữ hai ngành Đen và Trắng là chi tiết cổ áo. Trang phục nữ Thái Đen còn có khăn piêu mầu đen, hai đầu có thêu những hoa văn kỉ hà bằng chỉ nhiều màu sắc.
Kiểu để tóc của phụ nữ Thái phân biệt khá rõ hai ngành Đen và Trắng.