Chương 1 NGUYỄN VỸ - HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC, QUAN NIỆM VĂN CHƯƠNG VÀ VẤN ĐÈ THỂ LOẠI CỦA TUẤN, CHÀNG TRAI NƯỚC VIỆT 1. Hành trình sáng tác của Nguyễn Vỹ 1. Cuộc đời Nguyễn Vỹ Nguyễn Vỹ (1912-1971) xuất hiện trên văn đàn Việt Nam từ những năm 30 của thế kỉ XX. Ông là một hiện tượng văn chương, báo chí và văn hóa đầy ấn tượng của thời hiện đại.
Nguyễn Vỹ sinh ra và lớn lên tại làng Tân Hội (sau đổi là Tân Phong, rồi đổi là Phổ Phong) huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Ông xuất thân trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Cha ông tên là Nguyễn Thuyên từng làm quan ở huyện Tuy Phước (tỉnh Bình Định), nhưng sau từ chức để chống Pháp. Mẹ ông là bà Trần Thị Luyến.
Bác ruột là Nguyễn Tuyên, từng tham gia phong trào Duy Tân năm 1908. Anh họ là Nguyễn Nghiêm, từng giữ chức vụ Bí thư tỉnh ủy Quảng Ngãi (1930), là người lãnh đạo phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh ở Quảng Ngãi năm 1930, bị Pháp giết hại tại tỉnh nhà. Tiếp nối truyền thống yêu nước và cách mạng của gia đình và quê hương, trong thời gian từ 1924-1927, ông tham gia bãi khóa, chống Pháp khi đang theo học tại trường trung học Pháp – Việt ở Quy Nhơn (tỉnh Bình Định). Vì điều này, ông bị nhà chức trách giám sát và buộc phải chuyển trường ra Hà Nội.
Đến năm 1937, ông sáng lập tờ báo Le Cygne (Bạch Nga) in song ngữ Việt – Pháp. Tờ báo sớm bị đóng cửa và ông bị phạt tù 9 tháng cộng 3000 quan tiền. Trên tờ báo này, ông viết nhiều bài chỉ trích đường lối cai trị của chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương. 10 Tuy khó khăn nhưng lòng yêu nước vẫn thôi thúc ông tiếp tục dùng ngòi bút của mình góp sức mang lại tự do cho dân tộc.
Năm 1939, ông xuất bản 2 cuốn sách chống bọn quân phiệt Nhật là Kẻ thù là Nhật Bản và Cái họa Nhật Bản. Vì hai tác phẩm này, một năm sau đó, năm 1940, Nguyễn Vỹ bị phát xít Nhật bắt giam ở nhà ngục Trà Khê. Sau khi ra khỏi tù, năm 1945, Nguyễn Vỹ sáng lập tờ báo Tổ quốc tại Sài Gòn. Ít lâu sau, tờ báo Tổ quốc của Nguyễn Vỹ buộc phải đóng cửa vì công kích chính quyền.
Năm 1948, ông lại cho xuất bản tờ báo Dân chủ nhưng đến năm 1950 bị chính quyền Bảo Đại đóng cửa vì có tư tưởng chống nhà nước quân chủ. Năm 1953, ông tiếp tục ra mắt bạn đọc báo Dân ta. Sau một thời gian báo này cũng bị đình bản vì tư tưởng phê phán nhà cầm quyền đương thời. Năm 1958, ông chủ trương ra Bán nguyệt san phổ thông.
Đây là một trong những tạp chí nghệ thuật và văn học uy tín nhất với làng báo miền Nam lúc bấy giờ. Bên cạnh đó, ông còn xuất bản tuần báo Bông lúa và tuần báo Thằng Bờm đặc biệt dành cho thiếu nhi. Có thể khẳng định rằng, Nguyễn Vỹ là một trong những nhà báo, nhà văn hoạt động xông xáo nhất Việt Nam trong thế kỷ XX. Trong khi sự nghiệp báo chí và văn học đang vào giai đoạn chín muồi, Nguyễn Vỹ đột ngột qua đời ngày 07 tháng 02 năm 1971 trong một tai nạn xe hơi trên đường Sài Gòn xuống Tiền Giang.
Như vậy, có thể thấy, Nguyễn Vỹ là một nhà trí thức từng trải. Ông đã có một thời thanh niên hoạt động sôi nổi đi qua bao biến cố cuộc đời. Tìm hiểu về cuộc đời của Nguyễn Vỹ, chúng ta thấy có hai điểm lớn đáng chú ý như sau. Một, ông là người có tư tưởng tiến bộ, giàu tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, đấu tranh không biết mệt mỏi cho tự do, dân chủ.
Điều này phản ánh rõ trong hoạt động làm báo cũng như các sáng tác văn chương của ông. 11 Trong Tuấn, chàng trai nước Việt, qua nhân vật Tuấn là hình ảnh phân thân của tác giả, ta thấy rõ đặc điểm này của con người Nguyễn Vỹ. Hai, ông có vốn sống phong phú, sức làm việc và sáng tạo mãnh liệt, hoạt động tích cực trong lĩnh vực báo chí, quen biết nhiều nhà văn nổi tiếng đương thời,… Đây là những tiền đề quan trọng góp phần làm nên sự nghiệp báo chí và văn chương của ông. Hành trình sáng tác của Nguyễn Vỹ Nguyễn Vỹ có nhiều bút hiệu khác nhau như Tân Phong, Tân Trí, Lệ Chi, Cô Diệu Huyền nhưng người ta biết đến tên thật của ông nhiều hơn.
Gần 40 năm cầm bút, Nguyễn Vỹ đã đi qua một hành trình sáng tác đầy thăng trầm và với những nổ lực không ngừng, ông để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ trên nhiều thể loại. Từ năm 1927, ông bước vào làng báo. Khởi đầu ông viết cho báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Sau đó, ông là trợ bút cho nhiều tờ báo ở Hà Nội như: Văn học tạp chí, Hà Nội báo, Đông Tây tạp chí, Đông Phương tuần báo.
Chính việc sớm làm báo và làm cho nhiều tờ báo lớn lúc bấy giờ đã cho Nguyễn Vỹ những kinh nghiệm quý báu về nghề nghiệp cũng như cơ hội được tiếp xúc nhiều người nổi tiếng đương thời, trong đó có các nhà văn, nhà báo lớn. Đây là những tiền đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp cầm bút của ông sau này. Cùng với hoạt động báo chí, Nguyễn Vỹ còn sớm tham gia sáng tác văn chương. Ông thử bút ở nhiều thể loại và đều tạo được ít nhiều tiếng vang trên văn đàn.
Hơn nữa, ông sáng tác từ khá sớm và bền bỉ, được xem là một trong những nhà văn có sức sáng tạo mãnh liệt của văn học hiện đại Việt Nam. Trên hành trình sáng tác của Nguyễn Vỹ, có thể thấy rõ hai chặng đường trước và sau năm 1945 với nhiều thay đổi trong quan niệm sáng tác và bút pháp thể hiện. Chặng đường trước năm 1945 Đây là thời gian sáng tác và công bố tác phẩm chủ yếu ở Hà Nội của Nguyễn Vỹ. Năm 1934, khi mới 22 tuổi Nguyễn Vỹ tự xuất bản tác phẩm Tập thơ đầu - Premières poésies.
Đây là tập thơ song ngữ Việt – Pháp, đồng thời là tác phẩm đầu tay của Nguyễn Vỹ. Tác phẩm trình làng này gây được ít nhiều tiếng vang trên văn đàn Hà Nội bấy giờ, đánh dấu chính thức Nguyễn Vỹ bước chân vào lĩnh vực văn chương. Sau những thành công ban đầu của Tập thơ đầu - Premières poésies, tiếp tục đà sáng tác, năm 1936 Nguyễn Vỹ xuất bản Đứa con hoang do Nxb Minh Phương ấn hành. Đây là tác phẩm tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Vỹ, còn nhiều hạn chế nên chưa được đánh giá cao.
Bên cạnh thể nghiệm ở thể loại tiểu thuyết, Nguyễn Vỹ còn thử sức ở lĩnh vực truyện ngắn. Cũng trong năm 1936, ông trình làng tác phẩm truyện ngắn đầu tay viết bằng tiếng Pháp với nhan đề Grandeurs et Servitudes de Nguyễn Văn Nguyên. Tập truyện này do nhà Đông Tây xuất bản. Không dừng lại ở lĩnh vực truyện ngắn, Nguyễn Vỹ còn muốn thể nghiệm ở thể loại chính luận.
Trong hai năm 1937 và 1938, nhà văn cho xuất bản 03 tác phẩm luận đề chính trị: Kẻ thù là Nhật Bản (Nxb Thanh niên, H, 1937), Cái họa Nhật Bản (Nxb Thanh niên, H, 1938) và Đứng trước thảm kịch Việt Pháp - Devant le drame Franco Vietnamien (tác phẩm song ngữ Pháp – Việt do tác giả tự xuất bản). Sau các tác phẩm chính luận, Nguyễn Vỹ trở lại với thể loại tiểu thuyết. Năm 1938, ông cho in tác phẩm Thi sĩ Kì Phong. Đến năm 1941, ông xuất bản tác phẩm Chiếc bóng, tác phẩm này do nhà Cộng Lực ấn hành Nhìn lại chặng đường sáng tác trước 1945 của Nguyễn Vỹ, có thể thấy, ông là người có sức viết rất dồi dào.
Chỉ trong vòng 11 năm, ông xuất bản đến hơn 7 tác phẩm. Hơn nữa, ông còn luôn tìm tòi, thể nghiệm ở nhiều thể 13 loại khác nhau. Từ thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết cho đến chính luận, ở thể loại nào Nguyễn Vỹ cũng xông xáo với những bước đi tiên phong, gây được chú ý trên văn đàn cũng như trong công chúng độc giả. Tuy Nguyễn Vỹ chưa đạt được nhiều thành tựu (ngoại trừ thơ) nhưng các sáng tác ở chặng đường này có ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp văn học của Nguyễn Vỹ.
Chính nhờ những bước đi tìm tòi, thể nghiệm này mà sang chặng đường thứ hai, ông gặt hái được nhiều thành công. Chặng đường sau năm 1945 Đây là chặng đường sáng tác và công bố chủ yếu ở Sài Gòn, khi Nguyễn Vỹ vào Nam sinh sống và hoạt động văn chương, báo chí. Sau năm 1945 một thời gian, Nguyễn Vỹ gần như không sáng tác. Năm 1948, tại Đà Lạt, ông cho xuất bản cuốn luận đề về tôn giáo có nhan đề là Hào quang đức Phật.
Đây là tác phẩm bàn sâu về tôn giáo, ít để lại ấn tượng trên văn đàn. Sau Hào quang đức Phật (1948), Nguyễn Vỹ ngừng viết trong một thời gian khá dài. Mãi đến năm 1957, ông mới tiếp nối mạch văn chương với tiểu thuyết Chiếc áo cưới màu hồng do nhà Dân Ta xuất bản tại Sài Gòn. Và cũng bắt đầu từ đây, một thời kỳ mới trong hành trình văn chương của Nguyễn Vỹ mở ra với hàng loạt tác phẩm có giá trị ra đời, được nhiều ảnh hưởng trong đời sống văn học miền Nam trước 1975.
Sau sự thành công của Chiếc áo cưới màu hồng (1957), trong hai năm 1957 và 1958 ông cho ra mắt liên tục ba tác phẩm tiểu thuyết nữa: Dây bí rợ (nhà Dân Ta xuất bản, S, 1957), Hai thiêng liêng (2 tập, nhà Dân Ta xuất bản, S, 1957) và Người yêu của hoàng thượng (nhà Minh Phương xuất bản, S, 1958). Những tác phẩm này đều được nhiều tiếng vang trên văn đàn miền Nam lúc bấy giờ. Sau thành công của các bộ tiểu thuyết, Nguyễn Vỹ quay lại với thơ. 14 Năm 1962, ông xuất bản tập thơ có nhan đề Hoang vu do Nxb Phổ thông ấn hành.
Đến năm 1965, ông lại trở về với tiểu thuyết Mồ hôi nước mắt do nhà Sống mới xuất bản, được nhiều chú ý trong công chúng văn học miền Nam bấy giờ. Sau những thành công trên lĩnh vực tiểu thuyết, Nguyễn Vỹ tiếp tục đến với các thể loại biên khảo, hồi ký văn học. Trong năm 1970, ông xuất bản 03 tác phẩm quan trọng: Những đàn bà lừng danh trong lịch sử (biên khảo, nhà Sống mới xuất bản, S), Tuấn, chàng trai nước Việt (2 tập) (Nxb Triêu Dương, S) và Văn thi sĩ tiền chiến (hồi ký văn học, Nxb Khai trí, S).