Chương 1 TRIỆU LAM CHÂU TRONG DÒNG CHẢY THƠ TÀY THỜI KÌ HIỆN ĐẠI 1. Đặc trưng cơ bản của thể loại thơ 1. Khái niệm thơ Thơ ca là tiếng nói của tâm hồn, là tiếng nói của tình cảm con người. Thơ lấy điểm tựa là sự bộc lộ thế giới nội cảm của nhà thơ, những rung động mãnh liệt từ trái tim thi sĩ trước cuộc đời.
Nghiên cứu về thơ có nhiều cách hiểu khác nhau, trong phạm vi luận văn này chúng tôi đề cập đến một số định nghĩa tiêu biểu sau: Lại Nguyên Ân cho rằng: “Thơ là hình thức nảy sinh đầu tiên của nghệ thuật ngôn từ theo nghĩa đen (tức là không có sự phân giới với thơ ca dân gian). Câu thơ là đơn vị kiến tạo cơ sở của những tác phẩm thuộc các thể loại khác nhau (trường ca sử thi, bi kịch, hài kịch, các thể tài trữ tình) ở văn học Hy Lạp - La Mã cổ đại, ở văn học Châu Âu trung đại, Phục Hưng và chủ nghĩa cổ điển. Trong định nghĩa này, tác giả đã chỉ ra thơ ca là thể loại ra đời đời sớm nhất, là cơ sở để hình thành nên các thể loại khác. Theo Phan Ngọc: “Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này” [52].
Định nghĩa này cho rằng thơ là một hình thức ngôn từ độc đáo có sự sắp xếp theo âm tiết, vần, nhịp, niêm luật,.Với cách thức tổ chức riêng, thơ đòi hỏi người tiếp nhận phải ghi nhớ và cảm nhận thì mới có thể thấy được cái hay của một bài thơ. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã từng cho rằng: “Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi động chạm tới cuộc sống” [51]. Định nghĩa trên đã khẳng định cảm xúc, tình cảm chính là yếu tố quyết định, là cội nguồn của thơ và của mọi sáng tạo nghệ thuật. 8 Bàn về thơ, Sóng Hồng viết: “Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi.
Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng. Nhưng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên điệu nhạc khác thường” [13, 309 - 310]. Thơ khởi phát từ lòng người bằng những cảm xúc chân thực nhất, không có sự xúc động mãnh liệt thì hồn thơ không thể bay lên.
Sóng Hồng cho rằng tình cảm có vai trò quan trọng trong thơ, là mạch nguồn không thể thiếu. Bên cạnh cảm hứng thì nhà thơ còn phải suy nghĩ để tạo ra những câu thơ giàu hình ảnh. Sự kết hợp hài hòa giữa tình cảm và lí trí trong thơ sẽ tạo nên một chỉnh thể trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật cho tác phẩm thơ. Từ những định nghĩa trên có thể khẳng định thơ là một loại hình nghệ thuật ngôn từ xuất phát từ chính trái tim của người nghệ sĩ.
Thơ phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, cảm xúc mạnh mẽ của con người bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và có nhịp điệu. Do vậy, khi tìm hiểu một tác phẩm thơ người đọc cần đọc kỹ bài thơ, cảm nhận ý thơ qua từng câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu,. đồng cảm với nhà thơ, dùng khả năng liên tưởng, tưởng tượng thì mới có thể cảm nhận, đánh giá bài thơ. Những đặc trưng cơ bản của thơ Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình.
Thơ khởi phát từ thế giới tâm hồn của con người nên cảm xúc trong thơ là ý thức tự biểu hiện của tác giả, chính vì vậy mà tính trữ tình là đặc trưng nổi bật nhất của nội dung thơ. Vần, nhịp đều cần cho thơ nhưng chưa phải là bản chất của thơ. Thơ tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng, tưởng tượng phong phú. Tình cảm là tiền đề để nảy sinh ý thơ.
Tố Hữu từng viết: “Thơ chỉ bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy” [60]. Bạch Cư Dị thì cho rằng: “Với thơ thì gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa” [54]. Tình cảm, sự rung động mạnh mẽ của trái tim trước cuộc đời là yếu tố quan trọng nhất của thơ. 9 Trong một tác phẩm thơ, nhân vật trữ tình (cũng gọi là chủ thể trữ tình, cái tôi trữ tình) là người trực tiếp bộc lộ rung động và tình cảm trong bài thơ trước một khung cảnh hoặc sự tình nào đó.
Nhân vật trữ tình có mối liên hệ mật thiết với tác giả song có thể không đồng nhất với tác giả. Vì vậy, cái tôi chính là yếu tố tất yếu để chiếm lĩnh đời sống nhưng không có nghĩa rằng cái tôi chính là nội dung của thơ. Thơ tuy biểu hiện những cảm xúc, tâm sự riêng tư nhưng những tác phẩm thơ chân chính bao giờ cũng mang ý nghĩa nhân loại: “Thơ đi từ chân trời của một người đến chân trời của tất cả” (Pôn Eluya). Một điểm đặc biệt trong nội dung thơ là chất thơ.
Chất thơ hay còn gọi là thi vị, tức là có tính chất gợi cảm và gây hứng thú trong thơ. Đỗ Lai Thúy cho rằng: “Chất thơ có thể hiểu là một khía cạnh của cảm hứng thẩm mĩ nhân văn, phải gắn với cái đẹp. Cái đẹp có thể là do tự nhiên mang lại như cảnh mây trắng nhởn nhơ bay trên bầu trời xanh thẳm, tạo ra cảm giác dễ chịu cho người ngắm nhìn. Hoặc, chất thơ cũng có thể tạo ra từ những tình cảm, hành động của con người như: Sự nhớ nhung, sự uyển chuyển của các điệu múa.
Chất thơ chính là chất dư ba, thơ không nói ở những điều nó viết ra mà nói ở những chỗ trống, chỗ im lặng giữa các chữ, các lời (ý tại ngôn ngoại). Chất thơ trong tác phẩm Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương không nằm ở việc miêu tả hình ảnh bánh trôi mà thông qua đó nhà thơ gián tiếp bày tỏ nỗi niềm tự hào, sự cảm thông với thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Về hình thức, thơ biểu hiện bằng biểu tượng, ý tượng. Mỗi biểu tượng, ý tượng được xây dựng theo những cách thức riêng gắn với cảm xúc, với tâm hồn của tác giả.
Trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, hình ảnh “con tàu” là biểu tượng đi xa, đến những vùng đất xa xôi của Tổ quốc, những vùng đất mới. Đó cũng chính là “con tàu” của tâm hồn nhà thơ với khao khát về với ngọn nguồn sáng tạo nghệ thuật. Còn thế giới biểu tượng trong thơ Nguyễn Bính gắn liền với thôn quê với hoa xoan, khung cửi, giếng nước, bờ ao, giậu mồng tơi,. Các biểu tượng trong thơ đều được nảy sinh nhờ sức liên tưởng, tưởng tượng, sáng tạo mạnh mẽ của nhà thơ.
10 Ngôn từ thơ là ngôn từ được cấu tạo đặc biệt. Thứ nhất, ngôn từ thơ có nhịp điệu. Sự phân tách dòng trong bài thơ đóng vai trò tạo nhịp điệu. Nhịp điệu là “bước đi của thơ”.
Nhịp điệu như là sự rung động tâm hồn, là mạch cảm xúc được thể hiện ngoài lớp vỏ ngôn từ. Nhịp điệu trong thơ là sự chia cắt dòng âm thanh, sự phân đoạn câu thơ, dòng thơ giúp người đọc cảm nhận một cách trực tiếp. Thơ lục bát ngắt nhịp chẵn tạo giọng điệu êm ái, trầm bổng du dương. Thơ Đường luật thường ngắt nhịp 4/3 đóng cứng lại trong sự dồn nén cảm xúc.
Nhưng cũng có khi là sự phá cách: “Một đèo/ một đèo/ lại một đèo” (Hồ Xuân Hương) Hay trong bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến, câu thơ “Đã bấy lâu/ nay bác tới nhà” nếu tuân thủ theo cách ngắt nhịp truyền thống 4/3 hoặc 2/2/3 của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật thì câu thơ sẽ bị hạn chế về nét nghĩa, về tứ thơ mà chỉ giữ thông tin về sự hội ngộ bạn bè lâu ngày gặp lại. Nếu ngắt nhịp 3/4 ta sẽ thấy “lâu nay” không còn là một từ ghép đẳng lập nữa mà được tách thành hai khái niệm chỉ thời gian. “Lâu” là quá khứ, là niềm mong đợi, “nay” là hiện tại, là niềm vui mừng khi bạn bè được hội ngộ. Như vậy, có thể thấy nếu như nhịp điệu tự vận động theo mạnh cảm xúc riêng sẽ tạo nên nét chấm phá trong ý thơ.
Thứ hai, ngôn ngữ thơ không có tính liên tục mà có tính chất ngắt quãng, tạo thành những khoảng lặng giàu ý nghĩa. Ngôn từ trong thơ thường phá vỡ lôgic kết hợp thông thường để tạo thành những kết hợp bất ngờ. Chẳng hạn như bài Đàn ghi ta của Lor - ca của Thanh Thảo: “những tiếng đàn bọt nước Tây Ban nha áo choàng đỏ gắt li - la li - la li - la đi lang thang về miền đơn độc với vầng trăng chếnh choáng trên yên ngựa mỏi mòn.” Thanh Thảo đã kết hợp các hình ảnh: tiếng đàn, Tây Ban Nha, hình tượng người nghệ sĩ “đi lang thang” tưởng như không có lôgic nhưng thực ra đã nói 11 lên mối quan hệ giữa cái đẹp, nghệ thuật với đời sống chính trị đương thời. Tiếng đàn của Lor - ca đứng trước những nguy cơ đầy bất trắc.
Chính sự kết hợp lạ hóa trong ngôn từ này đã gợi ra nhiều cảm xúc trong thơ. Thứ ba, ngôn từ thơ giàu nhạc tính. Thơ là tiếng nói trữ tình của người làm thơ chính vì vậy mà nó mang tính nhạc. Nhờ có tính nhạc mà thơ có giá trị gợi cảm cao.
Nhạc tính trong thơ được thể hiện ra ở những mặt cơ bản như: sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp. Sự cân đối là cách tổ chức lời văn thành hai vế cân xứng và sóng đôi với nhau cả về ý và lời. Chẳng hạn như hai câu thơ sau của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao.” Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ được thể hiện rõ nét nhất ở cách hòa âm, ở sự thay đổi độ cao giữa các nhóm thanh điệu. Tố Hữu đã viết hai câu thơ với những âm mở: “an, ang, ơi” khiến câu thơ như một tiếng reo vui, hứng khởi của thi nhân trước khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, mới lạ ở nước bạn: “Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan Đường bạch dương sương trắng nắng tràn” Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ là một hình thức thường gặp trong sáng tác văn chương, đặc biệt là trong thơ.
Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ được thể hiện ở sự dùng vần, điệp từ, điệp ngữ và điệp cú.