Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật và quan niệm thơ của Hữu Thỉnh. Chương 2: Cái tôi trữ tình và một số biểu tượng đặc sắc trong thơ Hữu Thỉnh. Chương 3: Ngôn ngữ trong thơ Hữu Thỉnh. z 11 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƢ DUY NGHỆ THUẬT VÀ QUAN NIỆM THƠ CỦA HỮU THỈNH 1.
Một số vấn đề lý luận về tƣ duy nghệ thuật Tư duy là một thuật ngữ có tính chất mở, với một nội hàm khá rộng. Nói đến tư duy là liên quan đến lĩnh vực triết học, tâm lý học…trong đó có lĩnh vực nghệ thuật. Trong “Từ điển triết học” của M.Iudin có định nghĩa về tư duy như sau: “Tư duy là một hoạt động nhận thức lý tính của con người. Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi gần 16 tỷ tế bào thần kinh” (26, 676).
Đặc trưng tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người đối với thế giới khách quan, quan hệ con người với con người và quan hệ giữa các sự vật hiện tượng; Truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng phương tiện ngôn ngữ. Đó là toàn bộ của chức năng nhận thức của tư duy (30, 18). Ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là cái vỏ vật chất của tư tưởng. Tư duy làm cho ngôn ngữ phát triển tinh xảo, ngôn ngữ tạo điều kiện cho tư duy đi sâu vào bản chất sự vật.
Tư duy nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của con người trong lĩnh vực nghệ thuật. Có nhiều quan điểm về vấn đề này tuy nhiên chúng tôi thống nhất z 12 với quan điểm của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học”NXB Giáo dục 2006. Và ý kiến của tác giả Nguyễn Bá Thành trong cuốn “Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam” NXB Văn học HN 1996. Trong “Từ điển thuật ngữ văn học” có nhận định: Tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật.
Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định. Sự chuyên môn hoá lối tư duy này tạo thành đặc trưng nghệ thuật và tiềm năng nhận thức của nó. Tư duy nghệ thuật là một phương thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hoá hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ. Phương tiện của nó là các biểu tượng, tượng trưng có thể trực quan được.
Cơ sở của nó là tình cảm. Dấu hiệu bản chất của tư duy nghệ thuật là: ngoài tính giả định, ước lệ, nó hướng tới việc nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên (cái có thể có), có thể cảm nhận, theo xác suất khả năng và tất yếu. Chính nhờ đặc điểm này mà nội dung khái quát của nghệ thuật thường mang tính phổ quát hơn, triết học hơn so với sự thật cá biệt. Bằng trí tưởng tượng sáng tạo vốn là chất xúc tác của hoạt động tư duy nghệ thuật, nghệ sĩ xây dựng các giả thiết, làm sáng rõ các bộ còn phận bị che khuất của thực tại, lấp đầy các “lỗ hổng chưa biết”.
Tính cấu trúc của tư duy nghệ thuật gắn với năng lực nhìn thấy thế giới một cách toàn vẹn, nắm bắt nó qua những dấu hiệu phát sinh đồng thời, phát hiện các mối liên hệ mới chưa được nhận ra… Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực tiếp” cho nó. Ngôn ngữ đó là hệ thống các ký hiệu nghệ thuật, các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện. Nó có mã nghệ thuật, tức là hệ thống năng động gồm các quy tắc sử dụng ký hiệu để gìn gữ tổ chức và truyền đạt thông tin. Điểm xuất phát của tư duy nghệ thuật vẫn là lý tính, là trí tuệ có kinh nghiệm, biết nghiền ngẫm và hệ thống hoá các kết quả nhận thức.
Đặc điểm z 13 của tư duy nghệ thuật là tính lựa chọn, tính liên tưởng, tính ẩn dụ. Trên cơ sở của tư duy nghệ thuật người ta tạo ra các tư tưởng và “quan niệm nghệ thuật”, lựa chọn các phương tiện, biện pháp nghệ thuật. Dạng tư duy này chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với tài năng, biết cảm nhận được một cách nhạy bén về viễn cảnh lịch sử, nắm bắt tinh thần thời đại, dự báo tương lai và tài năng sáng tạo nghệ thuật. Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích khái quát những vấn đề về tư duy nghệ thuật, tác giả Nguyễn Bá Thành trong cuốn “Tư duy thơ và Tư duy thơ hiện đại Việt Nam” đã bàn nhiều về vấn đề tư duy nghệ thuật nói chung, tư duy thơ nói riêng và đi đến kết luận: “Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hoá hiện thức khách quan theo nhận thức chủ quan.
Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo”. Tư duy nghệ thuật khác với tư duy khoa học là “Tư tưởng tình cảm không chỉ là năng lượng của tư duy mà còn là đối tượng nhận thức của tư duy…” (30, 54). Tư duy thơ là phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật “Tư duy thơ là phương thức nhận thức và biểu lộ tình cảm của con người bằng hình tượng ngôn ngữ”. Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự thể hiện cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy… Cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiện dưới dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp…Thơ trữ tình coi trọng sự biểu hiện của cái chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong mọi bài thơ.
Do sự chi phối của quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có sự thay đổi nhất định… Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại. So với tư duy logic, tư duy hình tượng có được phạm vi rộng rãi hơn cho sự liên tưởng và quyền tưởng tượng. Tư duy thơ có khả năng hướng nội và khả năng hướng ngoại và kết hợp giữa hướng nội và hướng ngoại. Hướng ngoại là nhằm vào đối tượng, miêu tả, z 14 trình bày nó dưới ánh sáng của một quan niệm thẩm mỹ.
Hướng nội là tác giả tự nghĩ về mình tự quan sát biểu hiện cái tôi nội cảm của mình. Tìm hiểu tư duy thơ là tìm hiểu sự vận động của cái tôi trữ tình. Ngôn ngữ đối với nhà thơ có ý nghĩa phương tiện vừa có ý nghĩa mục đích, khả năng tự do của tư duy thơ phụ thuộc vào yếu tố ngôn ngữ, phụ thuộc vào cấu trúc loại thể… 1. Qúa trình sáng tác của Hữu Thỉnh Hữu Thỉnh là gương mặt tiêu biểu trong số các nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được khẳng định từ năm 1975 và tiếp tục toả sáng cho đến ngày nay.
Ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn chương do các tổ chức có uy tín lớn trao tặng. Đọc toàn bộ thơ Hữu Thỉnh, ta nhận thấy ông thực sự là một tài năng văn học. Tài năng vừa có tính “tiên thiên”, vừa là kết quả của một quá trình “nhập cuộc, dấn thân” (chữ của Hữu Thỉnh) sâu sắc vào đời sống, không ngừng mài dũa tài năng và lao động sáng tạo. Có thể chia thơ Hữu Thỉnh thành hai mảng lớn, căn cứ vào nội dung phản ánh, cảm hứng chủ đạo và giọng điệu trữ tình.
Thơ viết về chiến tranh gồm tập thơ Tiếng hát trong rừng (bài viết sớm nhất vào năm 1968, bài muộn nhất vào năm 1982), trường ca Sức bền của đất (viết xong dịp tết Ất Mão 1975), trường ca Đường tới thành phố (viết từ tháng 8/1977, hoàn thành tháng 4/1978). Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng về đất nước, nhân dân, về cuộc chiến đấu chống kẻ thù Mỹ nguỵ. Một đất nước, nhân dân với khát vọng tự do, thống nhất, đoàn tụ và chính vì khát vọng cao đẹp ấy mà chấp nhận bao thử thách, hy sinh. Tập thơ Tiếng hát trong rừng chủ yếu ghi lại cảm xúc của nhà thơ khi chiến đấu ở Trường Sơn.
Những bài thơ ngắn trong tập này có ý nghĩa như sự chuẩn bị, tạo đà cho các cảm xúc dài hơn của trường ca. Có thể coi Sức bền của đất là bước trung chuyển từ những bài thơ ngắn sang trường ca. Trường ca z 15 Đường tới thành phố ghi lại tâm tình của người lính cách mạng đang giữ chốt ở nơi tiền tiêu, hàng ngày giáp mặt với quân thù, anh suy tư về nguồn gốc sức mạnh của bản thân và đồng đội - sức mạnh nhận từ lòng Mẹ, từ đất đai, từ các thế hệ đi trước, từ nếp sống văn hoá dân tộc. Đường tới thành phố là cột mốc đánh dấu sự chín muồi trong ý thức về thể loại, tập trung đầy đủ, hoàn thiện nhất những đòi hỏi mà thể loại trường ca cần phải có.
Đây là trường ca dài nhất của Hữu Thỉnh, gồm 5 chương, 1539 câu thơ, là bản tổng kết chiến tranh bằng thơ ca, cho ta hình dung chặng cuối cùng đi tới đích toàn thắng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (sau hiệp nghị Pa-ri 1/1973 đến 30-4-1975). Nó là bản tổng hợp của biết bao cảnh ngộ, cùng những hy sinh chịu đựng và suy tư trăn trở của nhân dân vĩ đại. Tất cả mọi mảng, khối của hiện thực rộng lớn đó không tồn tại trong trường ca này một cách rời rạc, chắp và mà được liên kết, gắn bó keo sơn bằng một sợi dây cảm xúc và mạch suy nghĩ, liên tưởng của nhà thơ: chương này gọi chương kia, khúc này gọi khúc khác, hình tượng này gợi ra, mở ra hình tượng khác. Tác giả như một người chỉ huy tài ba điều khiển một dàn nhạc giao hưởng thơ với nhiều giọng, nhiều bè mà vẫn mạch lạc, nhất quán, nhuần nhuyễn.
Mảng thơ viết về chiến tranh của Hữu Thỉnh thấm nhuần tính chất sử thi và cái cao cả, nằm trong giới hạn kiểu nhà thơ trữ tình công dân, thể hiện cái tôi sử thi của thơ ca cách mạng hiện đại.