ĐẶT VẤN ĐỀ Dược liệu đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe con người. Tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính khoảng 80% dân số trên thế giới hiện nay có sử dụng dược liệu trong chăm sóc sức khỏe, đặc biệt ở các nước còn khó khăn, các vùng khó tiếp cận với nền y học hiện đại [103]. Những thập kỷ gần đây xu thế con người quay trở lại sử dụng thuốc có nguồn gốc thảo dược ngày càng phổ biến làm tăng đáng kể nhu cầu về dược liệu trên toàn thế giới. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới năm 1999 có 65 quốc gia thừa nhận và quản lý lưu hành dược liệu và thuốc từ dược liệu thì con số này đã tăng lên là 116 quốc gia vào năm 2012 và 124 nước vào năm 2018.
Do đó, thị trường dược liệu đã phát triển toàn cầu và điều này đòi hỏi các quốc gia phải chú ý đến vấn đề đảm bảo chất lượng, an toàn, hiệu quả đối với dược liệu và thuốc từ dược liệu. Một trong những mục tiêu trong “Chiến lược hành động của Tổ chức Y tế thế giới với thuốc cổ truyền giai đoạn 2014 - 2023” là “Tăng cường đảm bảo chất lượng, an toàn, sử dụng hợp lý, hiệu quả thuốc cổ truyền” [89]. Tại Việt Nam, “Chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” theo quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 10/01/2014 của Thủ tướng chính phủ nêu rõ mục tiêu thuốc sản xuất trong nước chiếm 80% tổng giá trị thuốc tiêu thụ trong năm, trong đó thuốc từ dược liệu chiếm 30% [23]. Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủ tướng chính phủ “Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030” đã chỉ ra một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng thuốc từ dược liệu là tăng dần tỷ lệ nguyên liệu (cao chiết, tinh dầu, bột dược liệu) được tiêu chuẩn hóa trong các nhà máy sản xuất thuốc theo nguyên tắc, tiêu chuẩn GMP-WHO, đến năm 2030 năm đạt 100% nguyên liệu được tiêu chuẩn hóa [22].
Hy thiêm Siegesbeckia orientalis (L.) thuộc họ Cúc - Asteraceae là một dược liệu được nhân dân ta sử dụng lâu đời trong các bài thuốc y học cổ truyền, đã được chứng minh có tác dụng điều trị các bệnh phong thấp, bán thân bất toại, đau nhức các khớp xương, chữa các bệnh phong, bệnh hoa liễu, chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ và cao huyết áp. Hy thiêm cũng được xác định là một trong 24 dược liệu có tiềm năng có thể khai thác tự nhiên [22]. Dược điển Trung Quốc [67] và Tiêu 1 n chuẩn Hồng Kông về dược liệu [42] đều yêu cầu định lượng chất đánh dấu kirenol trong Hy thiêm. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu cho thấy, Hy thiêm trồng ở một số vùng của Việt Nam không chứa hoặc chứa ít kirenol, trong khi chứa một lượng đáng kể darutosid một diterpenoid được chứng minh có tác dụng tương đương kirenol trong chống viêm, làm lành vết thương [24], [25], [26], [98].
Vối Cleistocalyx operculatus (Roxb. et Perry thuộc họ Sim – Myrtaceae được coi là một vị thuốc quý. Từ lâu nhân dân ta đã biết dùng nụ vối với cách chế biến đơn giản tạo thành loại trà nấu hay hãm lấy nước uống hàng ngày vừa có tác dụng thanh nhiệt vừa có tác dụng kiện tỳ, tiêu thực, hạ đường huyết. Một số nghiên cứu chỉ ra 2′,4′-dihydroxy-6′-methoxy-3′,5′- dimethylchalcon (CO1) là thành phần flavonoid chính trong Vối [29], [37], [93].
Hợp chất CO1 được chứng minh có tác dụng chống viêm [43], [97], [99], tác dụng phục hồi tế bào gan [86], tác dụng làm giảm hấp thu glucose trên tế bào cơ và tế bào tạo mỡ nuôi cấy [62]. Hy thiêm, nụ Vối và lá Vối đều là các dược liệu được sử dụng lâu đời ở Việt Nam. Các dược liệu này đều đã được đưa vào DĐVN V. Tuy nhiên các chuyên luận trong DĐVN V còn đơn giản, chưa có định tính, định lượng các chất đánh dấu như xu hướng chung trong kiểm tra chất lượng dược liệu.
Xuất phát từ thực tế đó luận án “Nghiên cứu thiết lập một số chất chuẩn được chiết xuất từ dược liệu để góp phần hoàn thiện tiêu chuẩn chất lượng Hy thiêm và Vối Việt Nam” đã được thực hiện với một số mục tiêu nghiên cứu như sau: - Chiết xuất, phân lập, tinh chế từ dược liệu Hy Thiêm hợp chất darutosid, từ Vối hợp chất CO1 đủ tinh khiết và đủ khối lượng để thiết lập chất chuẩn gốc. - Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng các nguyên liệu thiết lập chất chuẩn darutosid và CO1 tinh chế được. - Thiết lập chất chuẩn gốc darutosid và CO1 - Ứng dụng chất chuẩn thiết lập được xây dựng quy trình định tính, định lượng đồng thời darutosid và kirenol trong dược liệu Hy thiêm; định tính, định lượng CO1 trong dược liệu nụ Vối, lá Vối. VAI TRÒ CỦA CHẤT ĐỐI CHIẾU TRONG KIỂM NGHIỆM DƯỢC LIỆU 1.
Sự cần thiết phải có chất đối chiếu trong kiểm nghiệm dược liệu Tiêu chuẩn hóa chất lượng dược liệu nhằm mục đích đảm bảo chất lượng dược liệu được sử dụng làm thuốc, đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị. Để tiêu chuẩn hóa chất lượng dược liệu thì ngoài các chỉ tiêu về cảm quan, định tính bằng soi bột, vi phẫu, phản ứng hóa học, còn cần có các chỉ tiêu định tính đảm bảo tính đặc hiệu hơn, định lượng được hoạt chất, chất đánh dấu trong dược liệu. Vì vậy, việc nghiên cứu chiết xuất, phân lập, tinh chế các hoạt chất, chất đánh dấu từ dược liệu nhằm tiêu chuẩn hóa chất lượng dược liệu là xu thế chung trong đảm bảo chất lượng dược liệu trên thế giới. Châu Âu là cái nôi của thuốc hóa dược, tuy nhiên Dược điển Châu Âu cũng rất chú trọng trong xây dựng các chuyên luận dược liệu.
Dược điển Châu Âu 10 (EP 10) có 214 chuyên luận dược liệu, trong đó có 208 chuyên luận bắt buộc phải sử dụng chất đánh dấu trong định tính, định lượng, 116 chuyên luận sử dụng các phương pháp phân tích đặc hiệu như HPLC, GC để định lượng chất đánh dấu [44]. Dược điển Nhật 17 (xuất bản năm 2016), bản tiếng Anh có 143 chuyên luận dược liệu. Trong đó 38 chuyên luận sử dụng chất đánh dấu trong định tính, định lượng [56]. Dược điển Nhật 18 (xuất bản năm 2021), bản tiếng Anh có 145 chuyên luận dược liệu.
Trong đó số chuyên luận sử dụng chất đánh dấu trong định tính, định lượng tăng lên 66 chuyên luận [57]. Dược điển Trung Quốc 2015, bản tiếng Anh có 583 chuyên luận dược liệu. Trong đó 332 chuyên luận sử dụng phương pháp HPLC, GC định lượng chất đánh dấu [67]. Tiêu chuẩn Hồng Kông về dược liệu (từ tập 1- tập 10, xuất bản năm 2015 – 2020) có 323 chuyên luận dược liệu.
Trong đó 310 chuyên luận định lượng chất đánh dấu bằng HPLC, GC [42]. DĐVN IV có hiệu lực năm 2010 có 264 chuyên luận dược liệu. Có 26 chuyên luận (chiếm 10%) bắt buộc sử dụng chất đánh dấu trong định tính, định lượng. Trong đó chỉ có 07 chuyên luận (chiếm 3%) định lượng chất đánh dấu bằng HPLC/GC [7].
DĐVN V (có hiệu lực từ năm 2018) có 372 chuyên luận về dược liệu và thuốc từ dược liệu tăng 58 chuyên luận so với DĐVN IV. Trong đó có 310 chuyên 3 n luận dược liệu. Số lượng các chuyên luận sử dụng các phương pháp phân tích đặc hiệu để định tính, định lượng chất đánh dấu “marker” tăng hơn gấp ba so với DĐVN IV nhưng vẫn còn rất hạn chế, 83 chuyên luận (chiếm 27%) bắt buộc sử dụng chất đánh dấu cho định tính, định lượng. Trong đó chỉ có 59 chuyên luận (chiếm 19%) có định lượng chất đánh dấu bằng phương pháp HPLC, GC [8].
Như vậy có thể thấy sử dụng chất đánh dấu trong kiểm tra chất lượng dược liệu là xu hướng chung từ các nước phát triển mạnh về công nghiệp hóa dược như các nước Châu Âu đến các nước Châu Á có nền y học cổ truyền phát triển như Nhật Bản, Hồng Kông, Trung Quốc. Nhận thức được tầm quan trọng đó DĐVN V đã có đột phá về số chuyên luận bắt buộc sử dụng chất đánh dấu cho định tính/định lượng cũng như số chuyên luận có sử dụng HPLC/GC để định lượng chất đánh dấu so với DĐVN IV – tăng tương ứng là 3 lần và 8 lần. Tuy nhiên do chưa có nhiều nghiên cứu xác định thành phần chính, chất đánh dấu, chất có hoạt tính sinh học trong các dược liệu trồng tại Việt Nam, xây dựng phương pháp định tính/định lượng chất đánh dấu, thiết lập chất chuẩn dùng trong kiểm nghiệm dược liệu nên số chuyên luận bắt buộc sử dụng chất đánh dấu trong định tính/định lượng còn rất khiêm tốn. Hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới về lựa chọn chất đánh dấu trong dược liệu Hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới năm 2017 về “Lựa chọn chất đánh dấu có nguồn gốc dược liệu trong kiểm nghiệm dược liệu và thuốc có nguồn gốc từ dược liệu” định nghĩa [87]: - Chất đối chiếu là chất có công thức hóa học được xác định (thích hợp cho mục đích tiêu chuẩn hóa hoặc kiểm tra chất lượng dược liệu) - Chất đánh dấu là chất đối chiếu được xác định có trong thành phần hóa học của dược liệu.
Chất đánh dấu có thể đóng góp vào tác dụng dược lý của dược liệu hoặc không. Tuy nhiên kể cả trường hợp có đóng góp vào tác dụng dược lý của dược liệu thì cũng không đủ bằng chứng để chứng tỏ rằng chỉ mình chất đánh dấu đó tạo nên tác dụng dược lý của dược liệu. Dược liệu và chế phẩm thuốc từ dược liệu rất phức tạp, do vậy việc định tính, định lượng là rất khó khăn. Định tính, định lượng chất đánh dấu trong dược liệu là chưa đủ để đảm bảo chất lượng dược liệu.
Đảm bảo chất lượng dược liệu phải đi từ nuôi trồng thu hái tốt (GACP), sản xuất tốt (GMP). Việc lựa chọn chất chuẩn 4 n có nguồn gốc dược liệu cho phép thử định tính, định lượng dược liệu và thuốc có nguồn gốc dược liệu tuân theo nguyên tắc ưu tiên sau: (1) Lựa chọn thành phần mà tác dụng điều trị đã được xác định. (2) Trường hợp chưa xác định được thành phần như đã nêu ở mục (1), lựa chọn thành phần có các tác dụng dược lý đã được thừa nhận. (3) Trường hợp chưa xác định được thành phần như đã nêu ở mục (1) và mục (2), lựa chọn chất đánh dấu là thành phần hóa học đặc trưng cho loài dược liệu đó, hoặc đặc trưng cho chi dược liệu đó, hoặc đặc trưng cho họ dược liệu đó.