Đặt vấn đề Phong tục thắp nhang đã có từ xƣa, ngày nay việc thắp nhang đã trở thành một nét văn hóa trong đời sống tâm linh của ngƣời Việt. Dù là ngày tết, ngày giỗ, hay mỗi khi lễ chùa, chuẩn bị đi xa, khi bắt đầu làm một việc gì đó quan trọng nhiều ngƣời thƣờng có thói quen thắp nhang. Thông qua nén nhang, ngƣời thắp cầu mong may mắn, hạnh phúc trong cuộc sống và bình an trong tâm hồn. Làm nhang không chỉ là ngành sản xuất mang lại nhiều thuận lợi cho nhà đầu tƣ mà nó góp phần giải quyết việc làm cho lao động ở địa phƣơng, cải thiện đời sống góp phần xóa đói giảm nghèo.
Đối với hộ gia đình sản xuất nhỏ lẻ thì nguồn vốn đầu tƣ không nhiều, sản phẩm làm ra đƣợc tiêu thụ tại địa phƣơng. Nghề làm nhang dùng nguyên liệu có sẵn trong nƣớc, cách thức giản dị, vốn ít và nhân công gia đình từ trẻ tới già ai cũng có thể làm đƣợc. Hiện nay, các làng nghề truyền thống trong nƣớc có dấu hiệu mai một bởi nguồn nguyên liệu ngày càng ít và công việc không ổn định nên đã có nhiều ngƣời bỏ nghề. Hơn nữa, sản phẩm trên thị trƣờng ngày càng nhiều, vừa đẹp vừa rẻ nên các mặt hàng thủ công khó cạnh tranh.
Thiết bị máy móc có sẵn trong nƣớc chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tế nhƣ năng suất thấp, chất lƣợng sản phẩm không đồng đều gây lãng phí lớn về nguyên vật liệu, dẫn tới chi phí giá thành cao. Do đó việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhang rất đƣợc quan tâm nghiên cứu, tuy vấn đề này còn gặp nhiều hạn chế, khó khăn do chƣa đƣợc đầu tƣ đúng mức. Việc nghiên cứu, phát triển máy ép Nhang nụ hiện nay chƣa nghiên cứu nhiều trên Thế Giới, ở Việt Nam chỉ có một số ít công trình nghiên cứu về vấn đề này. Thị trƣờng hiện có máy ép nhang tự động, máy phóng tăm tự động, máy ép nhang nụ tự động…giải phóng sức lao động cho công nhân.
Không phải bất cứ loại nhang nào cũng có hình dáng và tính chất nhƣ nhau và đề tài nghiên cứu THIẾT KẾ VÀ CHẾ TẠO MÁY ĐỊNH HÌNH NHANG NỤ- Nguyễn Hữu Sang- 2008 cho thấy máy đƣợc chế tạo thành công và ép ra sản phẩm tự động. Máy đƣợc dùng trong nghiên cứu và học tập của sinh viên ngành sản xuất tự động và cơ điện tử. Nhận thấy đề tài trên còn nhiều hạn chế nhƣ tính thẩm mỹ của máy và các yêu cầu kỹ thuật nhƣ năng suất làm việc, độ ổn định hoạt động và chất lƣợng sản phẩm đều không đạt. Cùng với sự hỗ trợ từ Công ty NHANG THIỀN nhằm nghiên cứu và phát triển máy với mục đích giải phóng con ngƣời, tăng năng suất nhằm đáp 1 do an ứng nhu cầu tâm linh trong văn hóa Việt.
Nhóm thiết kế máy ép nhang trầm hoạt động bán tự động điều khiển bằng hệ thống thuần khí nén dựa trên chuyển động máy ép nhang trầm bán tự động có tại Ấn Độ (hiện chƣa có trên thị trƣờng Việt Nam) nhằm giảm chi phí, tăng giá trị sản phẩm và nâng cao giá trị đời sống tinh thần của ngƣời dân. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài Nhu cầu sử dụng nhang đặc biệt là nhang nụ ở nƣớc ta ngày càng cao, cần đƣợc chế biến và sản xuất ở quy mô công nghiệp nhằm duy trì, phát triển làng nghề làm nhang. Quá trình sản xuất trƣớc đây đƣợc làm thủ công với công cụ thô sơ năng suất thấp, cần nhiều công nhân dẫn đến giá thành sản phẩm cao và khó cạnh tranh. Đề tài thực hiện cho phép giải quyết: Cơ khí hóa quá trình ép nhang nụ.
Đem lại hiệu quả cao về kinh tế và giải phóng sức lao động. Làm tăng thu nhập và phát triển nghề làm nhang. Mục tiêu nghiên cứu đề tài Đề tài đƣợc triên khai nghiên cứu hƣớng đến các mục tiêu sau: Bản vẽ thiết kế chi tiết hoàn chỉnh, bản vẽ lắp hoàn chỉnh máy ép nhang nụ. Mô hình máy ép nhang nụ hoàn chỉnh.
Mô hình máy ép nhang nụ phù hợp với yêu cầu sử dụng. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài Nhang nụ. Quy trình làm nhang nụ.
Cơ cấu ép và tách sản phẩm tự động. Giới hạn đề tài Máy ép nhang nụ là hệ thống phức tạp đòi hỏi sự kết hợp của nhiều ngành kỹ thuật cao: Cơ khí và điều khiển tự động. Trong phạm vi đồ án tốt nghiệp, cùng với những hạn chế về thời gian, kinh nghiệm thực tế cũng nhƣ kinh phí, đề tài chỉ dừng lại ở mức độ mô hình. Bao gồm những nội dung công việc nhƣ sau: Thiết kế và chế tạo cơ cấu cơ khí vững chắc, năng suất 3 (nụ/giây).
2 do an Kích thƣớc nụ: Dài 40mm, đƣờng kính đáy 10mm. Máy hoạt động tự động. Gồm 3 khâu: Khâu ép tạo hình cho nụ. Khâu tạo lỗ cho nụ.
Khâu tách nụ thành phẩm. Phần cấp liệu và thu liệu không đƣợc nghiên cứu và đƣợc chỉ định thực hiện bằng tay để có thể phù hợp với các cơ sở làm nhang ở quy mô vừa, nhỏ hay hộ gia đình có nhu cầu. Các thiết bị liên quan khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của để tài. Phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp phân tích lý thuyết: Thu thập tài liệu từ các nguồn báo chí, tạp chí, sách, internet có liên quan đến nội dung nghiên cứu.
Qua phân tích, xử lý thông tin và đề xuất quy trình ép và lấy sản phẩm nhang nụ tự động. Phƣơng pháp thực nghiệm: Tiến hành chế tạo thử nghiệm máy ép Nhang nụ tự động, kiểm nghiệm hoạt động của máy và hoàn chỉnh thiết kế. 3 do an CHƢƠNG 2. Giới thiệu Trầm hƣơng là phần gỗ của cây dó bầu nhiễm dầu.
Một số loài dó (tên khoa học Aquilaria), trong quá trình sinh trƣởng, do những tác động gây ra những "tổn thƣơng hay nhiễm bệnh" lâu ngày cây tích tụ một chất dạng nhựa (dầu) rồi lan dần ra làm biến đổi các phân tử gỗ tạo nên nhiều màu sắc (đen, nâu, chàm, xám, … ), nhiều tính chất (cứng, mềm, dẻo, dòn …), nhiều vị (đắng, cay, chua, ngọt, … ), nhiều hình dáng (tròn, xoắn, nhọn, dài, … ), ở nhiều vị trí (thân, cành, rễ) trong cây dó bầu. Đó chính là trầm hƣơng, có tên Quốc tế là Agarwood hay Eaglewood. Đặc điểm nổi bật của trầm hƣơng là hƣơng thơm đặc biệt nhất là lúc đốt. Với hàm lƣợng dầu lớn trên 25%, trầm hƣơng có thể chìm trong nƣớc.
Lọai trầm hƣơng cao cấp có thể đạt hàm lƣợng dầu 60-80% nên rất quý và hiếm. Theo Đông y, trầm hƣơng là vị thuốc quý hiếm vị cay, tính ôn, có tác dụng dáng khí, nạp thận, bình can tráng nguyên dƣơng, chữa các bệnh đau bụng, đau ngực, nôn mửa, hen suyễn, lợi tiểu, giảm đau, trấn tĩnh, hạ sốt, cấm khẩu, thổ huyết, khó thở …Theo Lê Trần Đức trong sách: " Thân thế và sự nghiệp y học của Hải Thƣợng Lãn Ông " (1971) thì từ thế kỷ thứ II trƣớc Công nguyên nhân dân ta đã dùng trầm hƣơng để phòng và chữa bệnh.Vào thế kỷ thứ XIV, trong Nam dƣợc thần hiệu, Tuệ Tĩnh đã viết về trầm hƣơng: " Vị cay, khí rất thơm, tính ấm, thông quan, trị phong độc, trúng độc, trừ tà, ấm dạ dày, bổ nguyên dƣơng, tiêu hoá ". Nguồn gốc và phân bố Cây dó bầu sinh trƣởng trên nhiều loại đất núi, đất đỏ xám, đỏ vàng, đất feralit, thích hợp nhất là đất nâu vàng, đất thịt pha cát còn tính chất rừng, có tầng canh tác sâu và nhiều mùn. Loài dó có khả năng cho trầm là cây bản địa có diện phân bố rộng khắp rừng núi nƣớc ta tập trung ở vùng núi Bắc Trung bộ, Trung Trung bộ, Nam Trung bộ, Tây nguyên, Đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang, vùng Bảy núi tỉnh An Giang.
Phân loại Dựa trên mức độ nhiễm dầu, màu sắc, hƣơng vị, hình dáng, trọng lƣợng, xuất xứ… trầm hƣơng có các tên gọi khác nhau nhƣ: Trần mắt tử, trầm mắt đảo, trầm bọ sánh, trầm bông, trầm da báo, trầm điệp lá, trầm điệp trai, trầm kiến xanh, trầm kiến lọn… Theo phẩm cấp, trầm hƣơng đƣợc xếp thành 3 hạng và mỗi hạng chia thành nhiều loại nhƣ sau: 4 do an 2. Hạng nhất là kỳ nam hay còn gọi là kỳ Là loại trầm hƣơng có phẩm cấp cao nhất, cho nhiều dầu, nhẹ, mềm, dẻo, nhuyễn, khi nếm có đủ vị chua, cay, đắng, ngọt; tỏa hƣơng thơm tự nhiên, khi đốt hƣơng thơm đặc biệt, khói xanh, bay thẳng và dài lên không trung. Kỳ nam đƣợc chia thành 4 loại: Bạch kỳ: Sắc trắng ngà, xám nhạt, vô cùng qúy hiếm, ít khi có, đắt giá nhất. Thanh kỳ: Sắc xanh xám, ánh lục, rất qúy hiếm, đắt giá sau bạch kỳ.
Huỳnh kỳ: Sắc vàng sẩm, vàng nâu, qúy hiếm và đắt giá sau thanh kỳ. Hắc kỳ: Sắc đen chàm, hắc ín, qúy và đắt giá sau huỳnh kỳ. Sách xƣa xếp loại kỳ nam: nhất Bạch, nhì Thanh, tam Huỳnh, tứ Hắc. Hạng hai là trầm Là lọai trầm hƣơng ít dầu, nặng, vị đắng, hầu hết khi đốt mới tỏa mùi thơm, khói màu trắng, bay quanh rồi tan ngay.
Theo phẩm cấp, trầm đƣợc xếp thành 6 loại: Loại 1, sắc sáp trắng, giá trị cao nhất trong 6 loại trầm. Loại 2, sắc xanh đầu vịt giá trị sau lọai 1. Loại 3, sắc sáp xanh, gía trị sau lọai 2. Loại 4, sắc sáp vàng, giá trị sau lọai 3.
Loại 5, sắc vằn lông hổ, giá trị sau lọai 4. Loại 6, sắc vàng đốm dầu, giá trị thấp nhất trong 6 loại trầm. Sách xƣa chia trầm hƣơng thành 5 loại: Hoàng lạp trầm, hoàng trầm, giác trầm, tiến hƣơng, kê cốt hƣơng, trong đó hoàng lạp trầm là tốt nhất. Hạng ba là tốc Phần lớn tốc có mức nhiễm dầu ít hơn trầm, chủ yếu là từ bên ngoài và dọc theo thớ gỗ.
Có khoảng vài chục lọai tốc với các tên gọi nhƣ: tốc kiến, tốc đá, tốc cá ngừ, tốc hƣơng, tốc lọn, tốc dây, tốc đỉa… Tuy nhiên, có thể xếp các dạng tốc thành 4 nhóm nhƣ sau: Tốc đỉa là nhóm tốc có mức độ nhiễm dầu nhiều trong các thớ gỗ, dạng nhỏ, cở ngón tay, đầu đũa con hoặc nhƣ con đỉa. Tốc dây là nhóm tốc có mức độ nhiễm dầu xen, tạo nhiều vòng giữa các thớ gỗ, thƣờng có dạng tròn, dài, dáng rễ cây. 5 do an Tốc hƣơng là nhóm tốc có mức độ nhiễm dầu dạng mảnh, hƣơng thơm nổi trội hơn các lọai tốc khác.