Luận án tiến sĩ hoá học nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây râu mèo việt nam

Luận án tiến sĩ hóa học khám phá thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây râu mèo Việt Nam, mở ra tiềm năng ứng dụng trong y học.

Chuyên ngành

Hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
275
11
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Đối tượng nghiên cứu

1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Những đóng góp mới của luận án

1.6. Cấu trúc của luận án

1.7. Giới thiệu về Chi Orthosiphon và cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus)

1.7.1. Sơ lược về chi Orthosiphon

1.7.2. Sơ lược về cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth.)

1.7.3. Tình hình nghiên cứu về cây Râu mèo

1.7.3.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.7.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước về cây Râu mèo

1.8. Tiểu kết chương I

2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Điều tra, nghiên cứu sự phân bố, thu thập mẫu thực vật và bảo quản

2.2.2. Phương pháp xử lý và chiết mẫu

2.2.3. Phương pháp phân lập và tinh chế các hợp chất

2.2.4. Phương pháp xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất

2.2.5. Phương pháp nghiên cứu tác dụng sinh học

2.2.6. Hóa chất và thiết bị

2.2.7. Phân tích thống kê kết quả

2.2.8. Phân lập và tinh chế các hợp chất từ cây Râu mèo

2.2.8.1. Phân lập và tinh chế các hợp chất từ phân đoạn BuOH
2.2.8.2. Phân lập và tinh chế các hợp chất từ phân đoạn EtOAc
2.2.8.3. Phân lập và tinh chế các hợp chất từ phân đoạn CHCl3

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả thu thập và xác định tên khoa học mẫu thực vật

3.2. Kết quả phân lập và tinh chế các hợp chất

3.2.1. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được từ phân đoạn BuOH

3.2.1.1. Hợp chất B1 (OSB-7)
3.2.1.2. Hợp chất B2 (OSB-7.4): Hợp chất mới
3.2.1.3. Hợp chất B3 (OSB-7)
3.2.1.4. Hợp chất B4 (OSB-3)
3.2.1.5. Hợp chất B5 (OSB-3)
3.2.1.6. Hợp chất B6 (OSB-3)
3.2.1.7. Hợp chất B7 (OSB-7)
3.2.1.8. Hợp chất B8 (OSB-7)
3.2.1.9. Hợp chất B9 (OSB-7)
3.2.1.10. Hợp chất B10 (OSB-1)
3.2.1.11. Hợp chất B11 (OSB-1)
3.2.1.12. Hợp chất B12 (OSB-1)
3.2.1.13. Hợp chất B13 (OSB-1)
3.2.1.14. Hợp chất B14 (OSB-2)
3.2.1.15. Hợp chất B15 (OSB-2)
3.2.1.16. Hợp chất B16 (OSB-2)
3.2.1.17. Hợp chất B17 (OSB-2)

3.2.2. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được từ phân đoạn EtOAc

3.2.2.1. Hợp chất E18 (OSEA-12)
3.2.2.2. Hợp chất E19 (OSEA-11)
3.2.2.3. Hợp chất E20 (OSEA-11.3): 5,7,4'-trimethoxyflavone hay 5,7,4'-trimethylapigenin
3.2.2.4. Hợp chất E21 (OSEA-11)
3.2.2.5. Hợp chất E22 (OSEA-11)
3.2.2.6. Hợp chất E23 (OSEA-11)
3.2.2.7. Hợp chất E24 (OSEA-10)
3.2.2.8. Hợp chất E25 (OSEA-10)
3.2.2.9. Hợp chất E26 (OSEA-10)
3.2.2.10. Hợp chất E27 (OSEA-10)
3.2.2.11. Hợp chất E28 (OSEA-10)
3.2.2.12. Hợp chất E29 (OSEA-9)
3.2.2.13. Hợp chất E30 (OSEA-9)
3.2.2.14. Hợp chất E31 (OSEA-9)
3.2.2.15. Hợp chất E32 (OSEA-9)
3.2.2.16. Hợp chất E33 (OSEA-9)

3.2.3. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được từ phân đoạn CHCl3

3.2.3.1. Hợp chất C34 (OSC-1)
3.2.3.2. Hợp chất C35 (OSC-1)
3.2.3.3. Hợp chất C36 (OSC-1)
3.2.3.4. Hợp chất C37 (OSC-1)
3.2.3.5. Hợp chất C38 (OSC-1)
3.2.3.6. Hợp chất C39 (OSC-1)
3.2.3.7. Hợp chất C40 (OSC-1)

3.3. Kết quả đánh giá hoạt tính sinh học của các hợp chất

3.3.1. Hoạt tính sinh học của các hợp chất phenylpropanoids (B1B17) phân lập được từ phân đoạn BuOH

3.3.2. Hoạt tính sinh học của các hợp chất flavonoids (E18E33) phân lập được từ phân đoạn EtOAc

3.3.3. Hoạt tính sinh học của các hợp chất pimarane-diterpenes (C34C40) phân lập được từ phân đoạn CHCl3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cây Râu mèo và tầm quan trọng của nghiên cứu

Cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth.) là một loại thảo dược quý, thuộc họ Bạc hà (Lamiaceae), phân bố rộng rãi ở Việt Nam. Theo y học cổ truyền, cây có tác dụng lợi tiểu, thanh nhiệt, và hỗ trợ điều trị các bệnh về thận, bàng quang. Nghiên cứu khoa học hiện đại đã chỉ ra rằng cây chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học cao như flavonoids, diterpenes, và phenylpropanoids. Tuy nhiên, các nghiên cứu về thành phần hóa họctác dụng sinh học của cây Râu mèo ở Việt Nam còn hạn chế. Do đó, luận án tiến sĩ hóa học này nhằm mục đích khám phá sâu hơn về các hợp chất hóa học và tiềm năng ứng dụng của chúng trong y học.

1.1. Tình hình nghiên cứu về cây Râu mèo

Trên thế giới, cây Râu mèo đã được nghiên cứu rộng rãi về thành phần hóa họchoạt tính sinh học, đặc biệt là các tác dụng chống oxy hóa, kháng viêm, và hạ đường huyết. Tuy nhiên, ở Việt Nam, các nghiên cứu còn thiếu hệ thống và chưa đầy đủ. Luận án này tập trung vào việc phân tích chi tiết các hợp chất hóa học và đánh giá tác dụng sinh học của chúng, đặc biệt là khả năng ức chế enzyme PTP1B và tăng cường hấp thụ đường trên mô hình tế bào mô mỡ 3T3-L1.

II. Phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm

Phương pháp nghiên cứu trong luận án bao gồm các bước thu thập mẫu, chiết xuất, phân lập, và xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất từ cây Râu mèo. Các phương pháp phân tích hóa học như sắc ký cột, sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), và các kỹ thuật phổ NMR được sử dụng để xác định cấu trúc của các hợp chất. Ngoài ra, hoạt tính sinh học của các hợp chất được đánh giá thông qua các thử nghiệm ức chế enzyme PTP1B và tăng cường hấp thụ đường trên dòng tế bào mô mỡ 3T3-L1.

2.1. Phân lập và tinh chế các hợp chất

Các hợp chất từ cây Râu mèo được phân lập bằng phương pháp chiết xuất với các dung môi khác nhau như BuOH, EtOAc, và CHCl3. Sau đó, các hợp chất được tinh chế bằng sắc ký cột và sắc ký lớp mỏng. Cấu trúc hóa học của các hợp chất được xác định bằng các phương pháp phổ hiện đại như phổ khối lượng (MS) và phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR).

2.2. Đánh giá hoạt tính sinh học

Các hợp chất phân lập được đánh giá về hoạt tính sinh học thông qua các thử nghiệm ức chế enzyme PTP1B và tăng cường hấp thụ đường 2-NBDG trên dòng tế bào mô mỡ 3T3-L1. Kết quả cho thấy một số hợp chất có tiềm năng ứng dụng trong điều trị bệnh tiểu đường và béo phì.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy cây Râu mèo chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học cao, bao gồm các flavonoids, diterpenes, và phenylpropanoids. Các hợp chất này được xác định cấu trúc và đánh giá về tác dụng sinh học. Một số hợp chất mới được phát hiện và có tiềm năng ứng dụng trong y học, đặc biệt là trong điều trị bệnh tiểu đường và béo phì.

3.1. Các hợp chất phân lập từ cây Râu mèo

Từ cây Râu mèo, 40 hợp chất đã được phân lập và xác định cấu trúc, bao gồm các flavonoids, diterpenes, và phenylpropanoids. Các hợp chất này được phân lập từ các phân đoạn BuOH, EtOAc, và CHCl3. Cấu trúc hóa học của các hợp chất được xác định bằng các phương pháp phổ hiện đại như phổ khối lượng (MS) và phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR).

3.2. Hoạt tính sinh học của các hợp chất

Các hợp chất phân lập được đánh giá về hoạt tính sinh học thông qua các thử nghiệm ức chế enzyme PTP1B và tăng cường hấp thụ đường 2-NBDG trên dòng tế bào mô mỡ 3T3-L1. Kết quả cho thấy một số hợp chất có tiềm năng ứng dụng trong điều trị bệnh tiểu đường và béo phì.

IV. Đóng góp và ứng dụng thực tiễn

Luận án này đã đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu thành phần hóa họchoạt tính sinh học của cây Râu mèoViệt Nam. Các kết quả nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏ cấu trúc hóa học của các hợp chất mà còn mở ra hướng ứng dụng mới trong y học, đặc biệt là trong điều trị bệnh tiểu đường và béo phì. Nghiên cứu khoa học này cũng góp phần vào việc bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu quý của Việt Nam.

4.1. Giá trị khoa học và thực tiễn

Luận án đã cung cấp những hiểu biết sâu sắc về thành phần hóa họchoạt tính sinh học của cây Râu mèo, mở ra tiềm năng ứng dụng trong y học và dược phẩm. Các hợp chất mới được phát hiện có thể trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng cho việc phát triển các loại thuốc mới.

4.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về hoạt tính sinh học của các hợp chất từ cây Râu mèo, đặc biệt là các thử nghiệm lâm sàng để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của chúng. Ngoài ra, việc phát triển các quy trình chiết xuất và sản xuất quy mô lớn cũng là hướng nghiên cứu quan trọng trong tương lai.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ hoá học nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây râu mèo việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu (6 trang), tổng quan (23 trang), đối tượng, phương pháp và thực nghiệm (17 trang), kết quả và thảo luận (80 trang), kết luận (4 trang), danh mục công trình công bố (1 trang), tài liệu tham khảo (10 trang). Ngoài ra còn có phần phụ lục gồm các hình ảnh phổ chọn lọc của các hợp chất. Giới thiệu về Chi Orthosiphon và cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus) 1. Sơ lƣợc về chi Orthosiphon Chi Orthosiphon hiện nay gồm khoảng 40 loài, phân bố rải rác ở nhiều vùng nhiệt đới Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương.

Vùng nhiệt đới Đông Nam Á được coi là nơi tập trung và có tính đa dạng cao nhất các loài của chi Orthosiphon. Ở Việt Nam, cây phân bố ở Lào Cai (Sa Pa), Hà Nội (Văn Điển, Ba Vì), Cao Bằng, Thanh Hóa (Vĩnh Lộc), Sơn La, Bắc Giang, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng (Đà Lạt), Ninh Thuận (Phan Rang), Bình Dương, Tây Ninh, Bà Rịa Vũng Tàu, Kiên Giang (Phú Quốc),…[3]. Riêng ở nước ta cho đến nay đã phát hiện có tổng cộng 08 loài, bao gồm: Orthosiphon lanatus Doan. (Râu mèo có vằn, Phong diệu yếu, hay còn gọi là Tía tô rừng), loài thứ ba là Orthosiphon rubicundus (D.

(có tên tiếng Việt là Râu mèo đỏ, hay trực quản đỏ), loài thứ tư là Orthosiphon thymiflorus (tiếng Việt gọi là Hàm huốt), loài thứ năm là Orthosiphon velterii Doan. (Râu mèo Velteri), loài thứ sáu Orthosiphon rotundifolius (Doan), loài thứ bảy Orthosiphon truncates (Doan), và loài thứ tám là Orthosiphon spiralis (Lour. có tên gọi chung là Râu mèo xoắn [2, 4]. Hình ảnh phần trên mặt đất cây Râu mèo 8 1.

Sơ lƣợc về cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth.) Cây Râu mèo (Cat’s whiskers) còn có tên gọi khác là Râu mèo xoắn, cây Bông Bạc, có tên khoa học là Orthosiphon spiralis (Lour.; tên đồng nghĩa: Orthosiphon aristatus (Blume) Miq., Orthosiphon stamineus Benth. [Clerodranthus spicatus(Thunb. Râu mèo là cây thuốc thuộc chi Orthosiphon, thuộc họ Bạc hà – Hoa môi (Lamiaceae), thuộc lớp hai lá mầm Dicotyledonate. Mô tả đặc điểm Râu mèo là dạng cây thảo, sống lâu năm, cao khoảng 0,5 –1 m.

Thân vuông, thường có màu nâu tím. Lá mọc đối có cuống ngắn, chóp nhọn, mép khía răng cưa. Cụm hoa là chùm xim co ở ngọn thân và ở đầu cành. Hoa có màu trắng sau ngả sang màu xanh tím.

Nhị và nhụy mọc thò ra ngoài, nom như râu mèo. Bao phấn ở đầu nhụy màu tím. Cây chịu được ngập tốt, thường được trồng ở các vùng đồng bằng và vùng núi; trồng bằng hạt [3]. Mùa hoa quả thường từ tháng 7 đến tháng 11.

Hình ảnh cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth.) tại Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. 9 Sinh thái và phân bố Sinh thái: Cây sinh trưởng ở nơi ẩm, sáng hoặc che bóng. Thường mọc ở ven đường, ven rừng, trên đồng cỏ; có thể gặp ở độ cao tới 1000m so với mực nước biển. Phân bố: Râu mèo có vùng phân bố khá rộng, kéo dài từ Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Malaysia, Philippin, Indonexia đến các khu vực nhiệt đới thuộc Oxtraylia.

Râu mèo cũng đã được trồng tại một số nước Châu Phi, khu vực Địa Trung Hải và cả ở Cu Ba. Trong hệ Thực vật nước ta, chi Râu mèo (Orthosiphon) có khoảng 08 loài. Loài Râu mèo (O. spiralis) thường gặp mọc dại hoặc được trồng lẻ tẻ ở nhiều địa phương từ Bắc vào Nam.

Tính vị và công dụng Theo Đông y, cây Râu mèo có vị ngọt nhạt, tính mát, không độc; có tác dụng lợi tiểu, thanh nhiệt, trừ thấp, dùng làm thuốc lợi tiểu mạnh, thông mật, dùng trong bệnh sỏi thận, sỏi túi mật, viêm túi mật, dùng trị viêm thận cấp tính và mãn tính; viêm bàng quang; sỏi tiết niệu. Có tác dụng tốt với các chứng rối loạn đường tiêu hóa, bệnh thấp khớp, đau lưng, đau nhức khớp xương. Còn có tác dụng tốt đối với bệnh xung huyết gan và bệnh đường ruột. Ngoài ra Râu mèo còn biết đến như một bài thuốc trị các bệnh về tim mạch, cao huyết áp và tiểu đường.

Trong Đông y thường dùng Râu mèo để trị một số bệnh như: viêm thận cấp và mạn, viêm bàng quang, sỏi đường tiết niệu, thấp khớp, tạng khớp với liều dùng khoảng 30 – 50 gam dạng thuốc sắc. Viêm thận phù thũng: Râu mèo, Mã đề, Lưỡi rắn trắng mỗi vị 30 gam, sắc uống. Sỏi niệu đạo, bệnh đường tiết niệu: Râu mèo, Chó đẻ răng cưa, Thài lài, mỗi vị 30 gam, sắc uống. Tình hình nghiên cứu về cây Râu mèo 1.

Tình hình nghiên cứu ngoài nước 1. Các nghiên cứu về thành phần hóa học cây Râu mèo Các nghiên cứu thành phần hóa học của cây Râu mèo được thực hiện từ rất sớm, cho đến nay đã có khoảng 120 các hợp chất hóa học được phân lập và nhận dạng từ Râu mèo trong đó bao gồm: các diterpen kiểu isopimarane và staminane, triterpene, isoflavonoid, các dẫn xuất của cinnamic acid và chromen. a) Các hợp chất flavonoid phân lập từ Râu mèo Năm 1989, Guerin và các cộng sự tại Pháp đã chứng minh rằng Râu mèo là loài dược liệu chứa rất nhiều dẫnxuất của hợp chất methylripariochromene A [27]. Cũng trong năm này, Malterud và cộng sự là nhóm nghiên cứu đầu tiên phát hiện và tách chiết được 8 hợp chất isoflavonoid từ loài này, bao gồm sinensetin, tetramethylscutellarein, eupatorin, 5-hydroxyl-6,7,3’,4’-tetramethoxylflavone, salvigenin,5,7,4’-trimethoxylflavone và 5,7,3’,4’-tetramethoxylflavone, trong đó hai hợp chất sinensestin và tetramethylscutellarein là phổ biến nhất.

Nổi bật nhất trong số các hợp chất flavonoids chiết xuất từ lá của loài Râu mèo là sinensestin, eupatorin, và 3’-hydroxy-5,6,7,4’-tetramethoxylflavones, tetramethyl-scutellarein, salvegenin, ladanein, vomifoliol, 7,3’,4’-tri-O- methylluteolin và scutellarein tetramethylether [11]. Năm 2000, nhóm của Ohashi tại đại học Fukuyama, Nhật Bản đã phân lập được 04 hợp chất flavones bao gồm 5-hydroxyl-6,7,3’,4’-tetramethoxylflavone, eupatorin, scutellarein và sinessetin. Cấu trúc hóa học và tên gọi của các hợp chất flavonoid được phân lập và nhận dạng cho đến nay từ các loài Râu mèo bởi các nhà khoa học trên thế giới được biểu hiện ở hình 3, theo thứ tự từ trái qua phải và từ trên xuống dưới: 1 (3'-hydroxy-5,6,7,4'-tetramethoxyflavone), 2 (4'-hydroxy-5,6,7-trimethoxyflavone), 3 (5,6,7,4'-tetramethoxyflavone), 4 (5,6-dihydroxy-7,4'-dimethoxyflavone) hay còn gọi là ladanein (tên riêng của 11 hợp chất này), 5 (5,7,4'-trimethylapigenin), 6 (5,6,7,4'-tetramethoxyflavone), 7 (5,7,3',4'-tetramethoxyflavone), 8 (5-hydroxy-6,7,3',4'-tetramethoxyflavone), 9(6-hydroxy-5,7,4'-trimethoxyflavone), 10 (7,3',4'-trimethylluteolin), 11 (5,3'- dihydroxy-6,7,4'-trimethoxyflavone) với tên gọi riêng là eupatorin, 12 (luteolin), 13 (pillion) có tên gọi theo danh pháp là 5-hydroxy-7,4'-dimethoxyflavone, 14 (quercetin), 15 (salvigenin), 16 (sinensetin) hay 5,6,7,3',4'-pentahydroxyflavone. Các hợp chất flavonoids phân lập từ cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth.) Mới đây nhất vào năm 2015, nhóm nghiên cứu của Hossain đã phân lập và nhận dạng được 06 hợp chất flavonoids từ phần lá của cùng loài Râu mèo Malaysia, 06 hợp chất này bao gồm: eupatorin (11), sinensetin (16), 5- hydroxyl-6,7,3’,4’-tetramethoxylflavone (8), salvigenin (15), 6-hydroxyl-5,7,4’- trimethoxylflavone và 5,6,7,3’-tetramethoxy-4’-hydroxyl-8-C-prenylflavone.

Trong đó, hợp chất 5,6,7,3’-tetramethoxy-4’-hydroxyl-8-C-prenylflavone (17) lần đầu tiên được phân lập và nhận dạng từ loài Râu mèo này [31]. b) Các hợp chất diterpenoid phân lập từ Râu mèo Các hợp chất diteroenoids, đặc biệt là các hợp chất diterpenoid có dạng khung isopimarane là những hợp chất được cho là thành phần hóa học chính và điển hình của các loài Râu mèo Nhật Bản, Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Từ những năm 2000, Ohashi và cộng sự tại Đại học Fukuyama, Nhật Bản đã phân lập được 03 hợp chất chromenes (methylripariochromene A, acetovanillochromene, và orthochromene A) và 06 hợp chất diterpenes có dạng khung isopimarane bao gồm neoorthosiphol A, neoothosiphol B, 13 orthosiphol A-B và orthosiphonone A-B, trong đó có 2 hợp chất mới được nhận dạng là neoorthosiphol A và B [55]. Năm 2002, cũng tại Nhật Bản nhóm của Kadota và cộng sự tại Đại học Y dược Toyama đã lần đầu tiên phân lập được 9 hợp chất diterpenoids mới có kiểu khung norstaminane và isopimarane từ phần trên mặt đất của loài O.

Các hợp chất mới này được đặt tên lần lượt là norstaminolactone A, norstaminols A và B, secoorthosiphols A-C và orthosiphols R-T. Hợp chất norstaminolactone A được nhận dạng là hợp chất diterpene có kiểu khung norstaminane đầu tiên có chứa nguyên tử nitơ trong phân tử. Hợp chất norstaminol C được nhận dạng là có cấu trúc được sinh tổng hợp từ khung staminane–diterpene. Các hợp chất secoorthosiphols A-C là những diteropenes có dạng cấu trúc mở vòng tại vòng A, đây là những hợp chất khung cấu trúc lần đầu tiên được phân lập và nhận dạng trong tự nhiên.

Secoorthosiphol C được chứng minh là đại diện đầu tiên hình thành từ sự phát sinh sinh vật độc đáo không theo quy luật của hợp chất diterpene dạng khung secoisopimarane có chứa 1 nhóm cyano. Vẫn là nhóm của Kadota và cộng sự vào năm 2003 đã nghiên cứu phân lập từ dịch chiết metanol của loài Râu mèo Indonesia được 9 hợp chất diterpenes mới nữa có dạng khung isopimarane chứa nhiều oxi nguyên tử trong phân tử [14]. Các hợp chất này được đặt tên lần lượt là 7-O-deacetylorthosiphol B, 6- hydroxyorthosiphol B, 3-O-deacetylorthosiphol I, 2-O-deacetylorthosiphol J, và siphonols A-E. Hầu hết các hợp chất này thể hiện hoạt tính chống viêm thông qua khả năng ức chế sự sản sinh nitric oxide (NO) gây nên bởi LPS thử nghiệm trên dòng tế bào tương tự đại thực bào J774.

Các loài Râu mèo của Myanmar, Đài Loan, Indonesia cũng đã được các nhà khoa học Nhật Bản nghiên cứu trong những năm từ 2000 đến 2005 một cách khá đầy đủ và chi tiết. Trong đó thành phần hóa học của các loài Râu mèo Đài Loan và 14 Myanmar cũng chủ yếu chứa các hợp chất diterpene với 2 dạng khung chính là isopimarane và staminane [51]. Các hợp chất diterpenes khung pimarane phân lập từ cây Râu mèo Trong giai đoạn này đã có tới 47 hợp chất diterpenes ở cả 2 dạng khung isopimarane và staminane được phân lập và nhận dạng từ phần trên của mặt đất của các 12 loài Râu mèo Châu Á và Đông Nam Á [15]. Hầu hết các hợp chất diterpenes phân lập và nhận dạng được cho tới nay từ loài Râu mèo được tiến hành bởi các nhà khoa học Nhật Bản, các nhà khoa học Trung Quốc (nhóm Wang và cộng sự tại Đại học Shandong) là nhóm thứ 2 trên thế giới nghiên cứu phân lập và nhận dạng được các hợp chất diterpenes từ loài này [23].

Tuy nhiên, từ giai đoạn 2006 trở đi, việc nghiên cứu thành phần hóa học từ loài Râu mèo đã bị chững lại. Đến năm 2013, một nhóm nghiên cứu của Nhật Bản khác là Kato- Noguchi và các cộng sự tại trường Đại học Kagawa mới tiếp tục nghiên cứu về thành phần hóa học của loài Râu mèo và đã tìm ra được một hợp chất mới có khung cấu trúc dạng 13-epi- staminane diterpene và đặt tên là 13-epi-orthosiphol N (48) [41]. Các hợp chất diterpenes khung pimarane phân lập từ Râu mèo (tiếp) Ngoài ra các nhà khoa học Trung Quốc cũng đã nghiên cứu thành phần hóa học phần trên mặt đất của loài Râu mèo Trung Quốc (O. aristatus) và đã tìm ra được 9 hợp chất diterpene mới cùng với 15 hợp chất đã biết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây râu mèo Việt Nam trong luận án tiến sĩ hóa học là một công trình khoa học chuyên sâu, tập trung phân tích các hợp chất hóa học có trong cây râu mèo và đánh giá tiềm năng hoạt tính sinh học của chúng. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về giá trị dược liệu của cây râu mèo mà còn mở ra hướng ứng dụng trong y học và dược phẩm. Độc giả quan tâm đến lĩnh vực này có thể tìm hiểu thêm về các nghiên cứu tương tự như Luận án nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của quả các cây gội nước anphanamixis polystachya xà cừ khaya senegalensis và xoan melia azedarach thuộc họ xoan meliace, Luận án nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học của hai loài tai chua garcinia cowa roxb ex choisy và đằng hoàng garcinia hanburyi hook f ở việt nam, hoặc Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học nghiên cứu thành phần hóa học và thử hoạt tính sinh học của rễ thương lục phytolacca americana. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về các loại dược liệu và hoạt tính sinh học của chúng.