Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân hóa học chuyên ngành Hóa hữu cơ của tác giả Lê Thị Trung Hiếu (Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, năm 2007) tập trung vào đề tài "Nghiên cứu thành phần hóa học của cây Đinh lăng lá tròn Polyscias balfouriana Bail. thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae)" dưới sự hướng dẫn của cán bộ hướng dẫn Nguyễn Thị Ánh Tuyết.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả đặt vấn đề từ việc thảo dược thiên nhiên đã được dân gian sử dụng lâu đời để chữa bệnh. Trong y học hiện đại, dù các phương pháp tổng hợp hóa dược đã tạo ra nhiều loại thuốc điều trị hiệu quả, việc sử dụng thuốc tổng hợp kéo dài thường dẫn đến nhiều tác dụng phụ. Do đó, xu hướng nghiên cứu hoạt chất tự nhiên từ thảo mộc ngày càng được chú trọng. Chi Đinh lăng (Polyscias) thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae) là nhóm thực vật nhiệt đới có giá trị dược liệu cao và làm cảnh phổ biến tại Việt Nam. Trong khi loài Đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fruticosa) đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu về dược tính và hóa học, loài Đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Bail.) dù được trồng rất phổ biến nhưng tại thời điểm thực hiện đề tài vẫn chưa có tài liệu công bố cụ thể về thành phần hóa học tại Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định rõ ràng:

  1. Thu hái và xử lý nguyên liệu lá cây Đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Bail.).
  2. Điều chế các phân đoạn cao chiết bằng phương pháp ngâm dầm phân đoạn với các dung môi có độ phân cực tăng dần: ete dầu hỏa, clorofom và metanol.
  3. Sử dụng sắc ký cột nhanh (silica gel) kết hợp sắc ký lớp mỏng (TLC) để phân lập, tinh chế các hợp chất hữu cơ từ cao metanol.
  4. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất cô lập được bằng các phương pháp vật lý và phổ nghiệm hiện đại (đo nhiệt độ nóng chảy, phổ IR, MS, 1H-NMR, 13C-NMR, DEPT-90, DEPT-135).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bộ phận lá của cây Đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Bail.), thuộc chi Polyscias, họ Nhân sâm (Araliaceae).
  • Phạm vi không gian và thời gian: Mẫu thực vật được thu hái trực tiếp tại tỉnh Bình Dương; các phân tích phổ nghiệm được thực hiện tại Viện Hóa học các Hợp chất Thiên nhiên (Hà Nội) và Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh trong năm 2007.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng phần cơ sở dựa trên việc tổng quan hệ thống thực vật học, hoạt tính sinh học và thành phần hóa thực vật đã công bố của chi Polyscias.

Về phân loại thực vật học, họ Nhân sâm (Araliaceae) gồm 54 chi. Theo thống kê năm 2004 trên International Journal of Plant Sciences, chi Polyscias là chi lớn thứ hai trong họ Araliaceae với khoảng 150 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á và quần đảo Polynesia. Theo phân loại thực vật của GS. Phạm Hoàng Hộ, tại Việt Nam ghi nhận các loài chính gồm:

  • Polyscias fruticosa (L.) Harms (Đinh lăng lá nhỏ, cây gỏi cá)
  • Polyscias balfouriana Bail. (Đinh lăng lá tròn)
  • Polyscias guilfoylei (Cogn. Marchal) Bail. (Đinh lăng trổ)
  • Polyscias filicifolia (Merr.) Bail. (Đinh lăng răng / Đinh lăng lá to)
  • Polyscias scutellaria (Burm. f.) Merr. (Đinh lăng đĩa)
  • Polyscias serrata Balf. (Đinh lăng răng)

Về tổng quan hoạt tính sinh học và hóa thực vật, tác giả điểm luận các công bố trước đó:

  • Polyscias fruticosa: Chứa saponin triterpen (axit oleanolic), polyaxetylen (panaxynol, panaxydol, heptadeca-1,8(E)-dien-4,6-diyn-3,10-diol), 5-hydroxymethylfurfural, 3-β-hydroxyolean-28,13-lactone, stigmasterol; có tác dụng tăng biên độ điện thế não, tăng phản xạ có điều kiện, bảo vệ gan, kháng khuẩn, ức chế men MAO, kích thích miễn dịch.
  • Polyscias serrata: Chứa stigmasterol, có khả năng ức chế DNA polymerase β-lyase với $IC_{50} = 43{,}6$.
  • Các loài trên thế giới như P. amplifolia chứa saponin oleanolic có độc tính tế bào ung thư buồng trứng A2780; P. fulva chứa glycosid triterpen khung dammarane; P. murrayi chứa dẫn xuất axit 3-(4-hydroxyphenyl)propanoic ức chế men Itk kinase.

Phương pháp thực nghiệm và kỹ thuật phân tích được tác giả áp dụng bao gồm:

  • Xử lý mẫu và chiết xuất: Sấy mẫu lá khô ở 60°C đến khối lượng không đổi, xay bột mịn, ngâm dầm lần lượt qua ete dầu hỏa, clorofom và metanol; cô quay đuổi dung môi dưới áp suất giảm.
  • Sắc ký: Sắc ký cột nhanh silica gel 60 (kích thước hạt 0,040–0,063 mm, hãng Merck); sắc ký lớp mỏng (TLC) tráng sẵn silica gel 60 $F_{254}$ (Merck), phát hiện vết bằng dung dịch axit sunfuric đậm đặc ($H_2SO_4$) kết hợp sấy nhiệt ở 110°C.
  • Xác định cấu trúc: Đo điểm nóng chảy trên khối Maquenne; đo phổ hồng ngoại (IR) trên máy Shimadzu; đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1H$-NMR tần số 500 MHz, $^{13}C$-NMR tần số 125 MHz, DEPT-90, DEPT-135) trên thiết bị Bruker; đo phổ khối lỏng (LC-MS).

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của việc tìm kiếm hoạt chất sinh học từ nguồn thảo mộc thiên nhiên, tổng quan vị trí chi Đinh lăng trong hệ thực vật Việt Nam và xác định mục tiêu đóng góp dữ liệu hóa học ban đầu cho loài Polyscias balfouriana Bail. thu hái tại Bình Dương.

Phần II: Tổng quan

Cung cấp bức tranh toàn diện về chi Polyscias thông qua 3 phân mục lớn:

  1. Mô tả thực vật: Khái quát 54 chi trong họ Araliaceae, danh mục 150 loài thuộc chi Polyscias, mô tả đặc điểm hình thái chi tiết của các loài phổ biến ở Việt Nam (P. balfouriana, P. filicifolia, P. fruticosa, P. guilfoylei, P. scutellaria, P. serrata) và một số loài trên thế giới (P. fulva, P. elegans, P. sambucifolia).
  2. Hoạt tính sinh học: Trình bày các nghiên cứu dược lý về tác dụng thần kinh, bảo vệ gan, chống oxy hóa, kích thích miễn dịch, kháng khuẩn, ức chế men MAO, giảm cholesterol và các bài thuốc cổ truyền sử dụng đinh lăng.
  3. Thành phần hóa học: Tổng hợp các hợp chất đã được phân lập từ các loài trong chi Polyscias (polyaxetylen, saponin khung oleanane, glycosid triterpene khung dammarane, sterol, dẫn xuất propionyl choline).

Phần III: Nghiên cứu và kết quả

Trình bày chi tiết toàn bộ quy trình thực nghiệm chiết tách và biện luận cấu trúc các hợp chất tinh khiết:

  • Điều chế cao chiết: Từ bột lá khô, thực hiện chiết ngâm dầm thu được cao ete dầu hỏa, cao clorofom (9,5 g) và cao metanol (80 g).
  • Phân lập từ cao metanol:
    • Tiến hành sắc ký cột silica gel trên 80 g cao MeOH với hệ dung môi EtOAc:MeOH (0% – 20%) và EtOAc:MeOH:$H_2O$ (4% – 10%), thu được 8 phân đoạn (ký hiệu M1 đến M8).
    • Khảo sát phân đoạn M4 (khối lượng 5 g, dạng sệt màu nâu) bằng sắc ký cột với hệ $CHCl_3$:MeOH (0% – 15%) và $CHCl_3$:MeOH:$H_2O$ (0,5% – 5%), thu được 11 phân đoạn phụ ($M4.1 \rightarrow M4.11$).
    • Tách phân đoạn $M4.4$ bằng hệ ete dầu hỏa:etyl axetat (0% – 30%), kết tinh lại trong $CHCl_3$, thu được tinh thể hình kim màu trắng ký hiệu BAL-M1.
    • Tách phân đoạn $M4.7$ qua sắc ký cột với hệ ete dầu hỏa:etyl axetat (1% – 20%), phân đoạn $M4.7.3$ cho một vết đơn trên TLC ($R_f = 0{,}36$), kết tinh lại trong $CHCl_3$ thu được chất rắn màu trắng ký hiệu BAL-M2.
    • Tách phân đoạn $M4.5$ (247 mg) bằng sắc ký cột với hệ $CHCl_3$:MeOH (0% – 20%), thu được 4 phân đoạn nhỏ; phân đoạn $M4.5.3$ cho một vết đơn trên TLC ($R_f = 0{,}55$ trong hệ $CHCl_3$:MeOH 9:1), kết tinh lại trong hỗn hợp $CHCl_3$:MeOH (1:1) thu được chất rắn dạng vảy màu trắng ký hiệu BAL-M3 (7 mg).
Ký hiệu mẫu Dạng cảm quan Điểm nóng chảy (°C) Hệ dung môi giải ly TLC ($R_f$) Khối lượng phân tử ($m/z$) Cấu trúc xác định
BAL-M1 Tinh thể hình kim màu trắng 166 – 168 Ete dầu hỏa : EtOAc (4:1), $R_f = 0{,}41$ 412 ($C_{29}H_{48}O$) Stigmasterol
BAL-M2 Chất rắn màu trắng 170 – 172 Ete dầu hỏa : EtOAc (4:1), $R_f = 0{,}36$ 412 (LC-MS $[M-OH]^+ = 395$) Spinasterol
BAL-M3 Chất rắn dạng vảy màu trắng — $CHCl_3$ : MeOH (9:1), $R_f = 0{,}55$ — Hỗn hợp tỉ lệ 1:1 của 3-O-β-D-glucopyranosylstigmasterol và 3-O-β-D-glucopyranosylspinasterol
  • Biện luận cấu trúc hóa học:
    • Hợp chất BAL-M1: Phổ IR xuất hiện vân hấp thu đặc trưng của nhóm hydroxyl (-OH) tại $3433\text{ cm}^{-1}$. Phổ $^{13}C$-NMR và DEPT thể hiện tín hiệu của 29 carbon gồm 6 nhóm $-CH_3$, 9 nhóm $-CH_2-$, 11 nhóm $-CH$ (trong đó có 1 nhóm mang oxy $>CH-O$ tại $\delta = 71{,}6\text{ ppm}$ và 3 nhóm olefin $-CH=$) cùng 3 carbon tứ cấp. Tín hiệu proton olefin trên phổ $^1H$-NMR tại $\delta = 5{,}35\text{ ppm}$ ($1H$), $5{,}15\text{ ppm}$ ($1H$) và $5{,}02\text{ ppm}$ ($1H$) chứng minh sự có mặt của 2 nối đôi ($>C=CH-$ tại vị trí C5=C6 và $-CH=CH-$ tại vị trí C22=C23). So sánh đối chiếu với số liệu chuẩn, cấu trúc BAL-M1 được xác định là stigmasterol.
    • Hợp chất BAL-M2: Phổ IR có đỉnh hấp thu nhóm -OH tại $3454\text{ cm}^{-1}$. Phổ LC-MS cho pic ion phân mảnh $m/z = 395$ tương ứng $[M-OH]^+$, xác định khối lượng phân tử là 412. Phổ $^{13}C$-NMR và DEPT xác nhận 29 carbon với 2 nối đôi: một nối đôi tại vị trí C7=C8 ($\delta_C = 117{,}48\text{ ppm}$ và $139{,}58\text{ ppm}$) và một nối đôi tại vị trí C22=C23 ($\delta_C = 138{,}48\text{ ppm}$ và $129{,}49\text{ ppm}$). Tín hiệu carbon mang nhóm rượu tại C3 xuất hiện ở $\delta = 71{,}08\text{ ppm}$. Kết quả so sánh phổ cộng hưởng từ hoàn toàn trùng khớp với chất chuẩn spinasterol.
    • Hợp chất BAL-M3: Phổ IR cho mũi hấp thu của nhóm -OH tại $3396{,}4\text{ cm}^{-1}$. Phổ $^{13}C$-NMR xuất hiện 4 cặp tín hiệu nối đôi gồm khung stigmast-5,22-dien ($\delta_C = 140{,}24; 121{,}85; 138{,}68; 129{,}22\text{ ppm}$) và khung stigmast-7,22-dien ($\delta_C = 117{,}15; 139{,}39; 137{,}93; 129{,}28\text{ ppm}$). Đồng thời, sự xuất hiện của hai tín hiệu carbon anomer tại $\delta_C = 101{,}00\text{ ppm}$ và $100{,}92\text{ ppm}$ cùng các tín hiệu trong vùng $\delta_C = 61{,}56 - 79{,}04\text{ ppm}$ khẳng định sự tồn tại của phân tử đường glucoz. Tác giả kết luận BAL-M3 là hỗn hợp hai chất sterol glycosid với tỉ lệ 1:1, bao gồm 3-O-β-D-glucopyranosylstigmasterol và 3-O-β-D-glucopyranosylspinasterol.
Vị trí Carbon $\delta_C$ Stigmasterol chuẩn $\delta_C$ BAL-M1 $\delta_C$ Spinasterol chuẩn $\delta_C$ BAL-M2 DEPT BAL-M1 / BAL-M2
C-1 37,26 37,27 37,2 37,17 Mũi âm ($-CH_2-$)
C-2 31,63 31,64 31,6 31,50 Mũi âm ($-CH_2-$)
C-3 71,80 71,60 71,1 71,08 Mũi dương ($>CH-OH$)
C-4 42,30 42,32 38,1 38,02 Mũi âm ($-CH_2-$)
C-5 140,78 140,77 40,4 40,30 C tứ cấp (M1) / Mũi dương (M2)
C-6 121,71 121,70 29,7 29,66 Mũi dương (M1) / Mũi âm (M2)
C-7 31,89 31,90 117,5 117,48 Mũi âm (M1) / Mũi dương (M2)
C-8 31,89 31,90 139,6 139,58 Mũi dương (M1) / C tứ cấp (M2)
C-22 138,32 138,32 138,3 138,48 Mũi dương ($-CH=$)
C-23 129,28 129,29 129,6 129,49 Mũi dương ($-CH=$)

Phần IV: Kết luận

Tóm tắt các kết quả đạt được về mặt phân lập và xác định cấu trúc; tổng hợp các dữ liệu nghiên cứu dược lý đã biết về hoạt tính sinh học của stigmasterol và spinasterol từ tài liệu tham khảo.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả thực nghiệm định lượng và đóng góp khoa học cụ thể sau:

  1. Phân lập thành công các hợp chất tự nhiên: Từ 80 g cao metanol lá cây Đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Bail.), thông qua quy trình sắc ký cột silica gel đa bước, tác giả đã tách và xác định cấu trúc của 3 mẫu chất gồm:
    • Hợp chất BAL-M1: Stigmasterol (tinh thể hình kim màu trắng, $T_{nc} = 166 - 168^\circ\text{C}$).
    • Hợp chất BAL-M2: Spinasterol (chất rắn màu trắng, $T_{nc} = 170 - 172^\circ\text{C}$, khối lượng phân tử 412).
    • Hợp chất BAL-M3: Hỗn hợp đồng tỉ lệ 1:1 của hai phytosterol glycosid là 3-O-β-D-glucopyranosylstigmasterol và 3-O-β-D-glucopyranosylspinasterol (7 mg chất rắn dạng vảy màu trắng).
  2. Đóng góp mới về hóa thực vật: Mặc dù stigmasterol và spinasterol là những chất đã được tìm thấy ở một số loài thực vật khác (như stigmasterol trong Polyscias serrata), đây là công trình đầu tiên công bố việc phân lập và xác định cấu trúc của stigmasterol, spinasterol cũng như các dẫn xuất glucoside của chúng từ lá loài Đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Bail.) tại Việt Nam.
  3. Tổng hợp giá trị dược tính của các chất phân lập: Văn bản đã hệ thống hóa các minh chứng khoa học về dược tính của các chất tìm thấy:
    • Stigmasterol: Tiền chất tổng hợp hormone sinh dục nhân tạo duy trì thai, chất trung gian tổng hợp corticoid, có khả năng ngăn ngừa ung thư buồng trứng, tuyến tiền liệt, vú, ruột thừa và ức chế cạnh tranh hấp thu cholesterol tại ruột.
    • Spinasterol: Có khả năng làm giảm khối u da ở chuột (giảm kích thước khối u khi thử nghiệm với axeton), hạ cholesterol trong gan và huyết tương, giảm triglycerid huyết tương, giảm bài tiết protein niệu và hạn chế tổn thương thận trên mô hình chuột đái tháo đường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận một số giới hạn dựa trên phạm vi triển khai thực tế:

  • Nghiên cứu chỉ mới tập trung khảo sát thành phần hóa học trên bộ phận lá của cây Polyscias balfouriana Bail., chưa tiến hành khảo sát trên các bộ phận khác như thân hoặc rễ.
  • Quá trình phân lập hoạt chất chỉ mới thực hiện chuyên sâu trên phân đoạn M4 của cao chiết metanol; các phân đoạn cao chiết khác (cao ete dầu hỏa, cao clorofom và các phân đoạn M1, M2, M3, M5, M6, M7, M8 của cao metanol) chưa được cô lập triệt để.
  • Khóa luận dừng lại ở mức độ chiết tách, tinh chế và xác định cấu trúc hóa học bằng các phương pháp phổ nghiệm, chưa tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học trực tiếp trên các mẫu chất thu được từ loài thực vật này.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở là tiếp tục phân lập các phân đoạn còn lại để tìm kiếm các hợp chất mới (đặc biệt là nhóm saponin triterpen và polyaxetylen đặc trưng của họ Araliaceae) và đánh giá sàng lọc hoạt tính sinh học thực nghiệm của các hợp chất phân lập được.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn phục vụ công tác học tập và nghiên cứu:

  • Đối tượng sử dụng phù hợp: Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu viên thuộc các chuyên ngành Hóa hữu cơ, Hóa học các Hợp chất Thiên nhiên, Dược liệu học, Hóa dược và Thực vật học.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Quy trình chiết ngấm kiệt phân đoạn phân lập hợp chất tự nhiên theo độ phân cực của dung môi (Ete dầu hỏa $\rightarrow$ Clorofom $\rightarrow$ Metanol).
    • Hệ dung môi giải ly chi tiết cho sắc ký cột silica gel trên phân đoạn sterol và sterol glycosid ($CHCl_3$:MeOH và Ete dầu hỏa:EtOAc).
    • Bảng số liệu quy kết độ dịch chuyển hóa học phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1H$-NMR, $^{13}C$-NMR, DEPT) chi tiết và rõ ràng, làm tài liệu đối chiếu cấu trúc cho các nghiên cứu phân lập phytosterol (stigmasterol, spinasterol) và glycosid tương ứng.

Câu hỏi thường gặp

1. Mẫu thực vật Đinh lăng lá tròn trong nghiên cứu được thu thập ở đâu và xử lý như thế nào trước khi chiết xuất?
Mẫu lá cây Đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Bail.) được thu hái tại tỉnh Bình Dương. Sau khi thu hái, lá được rửa sạch, loại bỏ lá úa, phơi khô trong bóng râm ở nơi thoáng mát, sau đó sấy ở nhiệt độ 60°C đến khối lượng không đổi rồi xay thành bột mịn để dùng cho các bước chiết cao.

2. Tác giả đã thu được những phân đoạn cao chiết nào và khối lượng cao metanol là bao nhiêu?
Bằng phương pháp ngâm dầm phân đoạn bột nguyên liệu lần lượt qua các dung môi, tác giả thu được 3 loại cao gồm: cao ete dầu hỏa, cao clorofom (thu được 9,5 g cặn) và cao metanol (thu được 80 g cặn sau khi cô quay thu hồi dung môi dưới áp suất giảm).

3. Hợp chất BAL-M1 và BAL-M2 được nhận danh là những chất gì và có đặc điểm phổ nghiệm cơ bản nào?
Hợp chất BAL-M1 là stigmasterol ($C_{29}H_{48}O$), dạng tinh thể hình kim màu trắng, điểm nóng chảy 166–168°C, có 2 nối đôi tại vị trí C5=C6 và C22=C23. Hợp chất BAL-M2 là spinasterol ($C_{29}H_{48}O$), dạng chất rắn màu trắng, điểm nóng chảy 170–172°C, khối lượng phân tử 412 (xác định qua mũi LC-MS $[M-OH]^+ = 395$), có 2 nối đôi tại vị trí C7=C8 và C22=C23.

4. Vì sao hợp chất BAL-M3 được kết luận là một hỗn hợp gồm hai chất với tỉ lệ 1:1?
Phổ $^{13}C$-NMR của BAL-M3 thể hiện đồng thời 4 cặp tín hiệu nối đôi của hai bộ khung stigmast-5,22-dien và stigmast-7,22-dien. Đồng thời, phổ xuất hiện 2 tín hiệu carbon anomer của đường tại $\delta = 101{,}00\text{ ppm}$ và $100{,}92\text{ ppm}$ cùng các tín hiệu carbon của phân tử đường glucoz ($\delta = 61{,}56 - 79{,}04\text{ ppm}$). Tác giả đối chiếu các thông số phổ nghiệm và kết luận BAL-M3 là hỗn hợp tỷ lệ 1:1 giữa 3-O-β-D-glucopyranosylstigmasterol và 3-O-β-D-glucopyranosylspinasterol.

5. Đóng góp khoa học mới nhất của khóa luận đối với thành phần hóa học của cây Đinh lăng lá tròn là gì?
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam tiến hành phân lập và công bố dữ liệu phổ học đầy đủ chứng minh sự hiện diện của stigmasterol, spinasterol và hỗn hợp glucoside của chúng từ bộ phận lá của loài Polyscias balfouriana Bail.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Trung Hiếu đã hoàn thành việc khảo sát thành phần hóa học trên phân đoạn cao metanol của lá cây Đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Bail.) thu hái tại Bình Dương. Bằng kỹ thuật sắc ký cột silica gel kết hợp các phương pháp phổ nghiệm hiện đại (IR, LC-MS, NMR đa chiều), tác giả đã phân lập và xác định chính xác cấu trúc của 3 mẫu chất gồm stigmasterol, spinasterol và hỗn hợp sterol glycosid (3-O-β-D-glucopyranosylstigmasterol và 3-O-β-D-glucopyranosylspinasterol). Kết quả này cung cấp những dữ liệu thực nghiệm hóa thực vật đầu tiên về các hợp chất phytosterol có hoạt tính sinh học trong loài Polyscias balfouriana tại Việt Nam, đóng vai trò làm tài liệu tham khảo có giá trị cho các nghiên cứu tiếp theo về dược liệu học và hóa học các hợp chất thiên nhiên.