MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thực vật có tiềm năng to lớn để cung cấp các loại thuốc mới và là một nguồn chứa các hợp chất tự nhiên có thể chống lại nhiều loại bệnh. Hiện nay, cây dược liệu vẫn luôn đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh. Trên thế giới, nhiều nhà khoa học đã tìm ra nhiều loại thuốc mới có hoạt tính cao và được sử dụng rộng rãi trong việc điều trị bệnh từ các cây thảo dược.
Nổi bật là saponin đã được báo cáo là sở hữu các chất gây độc tế bào trên các dòng tế bào ung thư khác nhau [41]. Hay một số hoạt chất đã chính thức được sử dụng để điều trị cho bệnh nhân ung thư như hai hoạt chất Vinblastine và Vincristine từ cây Dừa cạn (Catharanthus roseus (L. Don), họ Trúc đào (Apocynaceae) và Taxol từ cây Thông đỏ (Taxus brevifolia), họ Thông (Pinaceae). Helicteres, một chi thuộc họ thực vật thuộc họ Sterculiaceae, một số loài thuộc chi này đã được sử dụng trong y học cổ truyền trong nhiều thế kỷ.
Ví dụ, Helicteres isora đã được sử dụng để điều trị bệnh dạ dày, nhiễm trùng đường ruột và bệnh tiểu đường [39]. Helicteres ovata và Helicteres sacarolha đã được sử dụng như một chất làm khô và điều trị giang mai [37]. Gốc Helicteres đã được sử dụng để điều trị đau tử cung [24]. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng dịch chiết của H.
isora được dùng làm thuốc chống ung thư, trị đái tháo đường, hạ sodium máu và hạ đường huyết [8, 10, 23, 39]; và chiết xuất từ thân của H. hisuta thể hiện hoạt tính gây độc tế bào chống lại các dòng tế bào ung thư [15]. Cây An xoa (H.) đã được nhắc đến trong danh mục Thực vật chí ở Việt Nam và trên thế giới, dùng để chữa nhiều bệnh khác nhau như cảm cúm, sởi, ung nhọt, kiết lỵ, các bệnh về gan [2]. Theo y học cổ truyền, từ xa xưa, cây An xoa được xem như là một bài thuốc gia truyền hỗ trợ điều trị xơ gan.
Gần đây, từ thân của H.Ở Indonesia đã tách được sáu lignan, trong đó (±) -pinoresinol có tác dụng gây độc tế bào mạnh đối với một số dòng tế bào ung thư [15]. 1 Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về thành phần hóa học hoàn chỉnh và tác dụng dược lý của cây An Xoa ở Việt Nam và trên thế giới vẫn còn rất hạn chế. Chính vì thế, tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu thành phần hóa học của thân cây An xoa (Helicteres hirsuta Lour.) ở Bá Thước, Thanh Hoá” với mục tiêu nghiên cứu thành phần hóa học trong cây An xoa nhằm làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng cây dược liệu một cách hợp lý và hiệu quả. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Tiến hành nghiên cứu các quy trình chiết tách chiết trong các hệ dung môi khác nhau nhằm xác định được cấu trúc hóa học của các chất thu được từ thân của cây An xoa (Helicteres hirsuta Lour.
Từ đó làm cơ sở tiến hành tiếp việc nghiên cứu các ứng dụng của thực vật nói chung và cây “An xoa (Helicteres hirsuta Lour. Đối tượng nghiên cứu của đề tài. Đối tượng nghiên cứu là thân của cây An xoa (Helicteres hirsuta Lour.) trên cơ sở các mẫu vật thu được và các tài liệu liên quan. Các tài liệu đã được công bố về việc nghiên cứu có liên quan đến cây Helicteres hirsuta Lour.
Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu - Phân lập các chất: Sử dụng các phương pháp tách chiết, điều chế hiện đại - Xác định cấu trúc: phân tích các phổ cộng hưởng từ hạt nhân (1H-NMR, 13 C-NMR, DEPT), phổ khối lượng (MS). - Các nghiên cứu được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Hóa - Sinh, Khoa Khoa học Tự nhiên, Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa. Giới thiệu chung về chi Dó (Helicteres) 1. Đặc điểm thực vật về chi Dó (Helicteres) Chi Dó (Helicteres) là một chi thuộc họ Trôm (Sterculiaceae) bao gồm khoảng 60 loài được tìm thấy ở các vùng nhiệt đới châu Á và châu Mỹ [22].
Trong công trình “Cây cỏ Việt Nam”, Phạm Hoàng Hộ đã mô tả chi Dó (Helicteres) ở Việt Nam bao gồm 9 loài [5]: TT Tên khoa học Tên Việt Nam H. glaucoides 1 Dó mốc Pierre. angustifolia glabriuscula Wall. Ổ kén không lông 5 H.
Dó lông hay An xoa 9 H. Dó trỉn, dó chuột Về mặt hình thái: - Cây gỗ hay cây bụi, có lông hình sao. - Cụm hoa ở nách lá; nhiều hoa. Đài hình ống có 5 răng, thường chia 2 môi.
Cánh hoa 5, hình dải thuôn, thẳng hay gấp khúc, thon thành hình móng dài ở nửa dưới, thường có tai ở trên móng, không giống nhau. Nhị 10, đính trên một cột hay nhụy dài, chỉ nhị 10, dính nhau nhiều hay ít; bao phấn lắc lư, thường ngoại hướng, rồi nội hướng, 2 ô. - Quả nang, có lông, hạt nhiều, hình tháp. Một số loài cây thuộc chi Dó (Helicteres) ở Việt Nam.
+ Helicteres viscida Bl. Thân cây Helicteres viscida Bl. [trích nguồn Ydhvn.com] - Phân bố: Trên thế giới: loài Helicteres viscida Bl. có ở Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Đông), Lào, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam.
Việt Nam: loài Helicteres viscida Bl. Phân bố ở các tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Hà Tây, Hà Nội, Nghệ An, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai. - Đặc điểm: Cây bụi, cao tới 1,5-2,5 m, nhánh phủ lông khi non. Lá đơn, mọc cách, phiến lá hình tim, kích thước 5-13,5 x 2,5-9 cm, chóp có đuôi nhọn, mép có răng cưa không đều, gần như có thùy nông ở đỉnh, gốc hình tim; Lá kèm hình sợi hay hình kim.
Hoa mọc đơn độc hoặc mọc thành chùm ở nách lá, có lông, chùm ngắn. Nụ hình trứng, hoa lưỡng tính; cuống hoa ngắn, có lá bắc hình sợi có lông - Ứng dụng: Lá nấu nước uống như trà. Rễ bổ thận. Rễ và lá dùng chữa hen.
Thân và lá trị đau bụng tiêu chảy, lị, đái ra máu. Cây Helicteres angustifolia L. [trích nguồn Ydhvn.com] - Phân bố: Trên thế giới: loài Helicteres angustifolia L. có ở các nước Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Malayxia, Indonesia, Philippin và Việt Nam.
Ở Việt Nam: cây phân bố ở nhiều tỉnh như Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Ninh Thuận… - Đặc điểm: Cây bụi nhỏ, cao 1-1,5 m, mọc thẳng, lá đơn, mọc cách, lá hình thon hẹp hay bầu dục, kích thước 4,5-9 x 1,25-4 cm, chóp nhọn hay có mũi nhọn, mép lá nguyên không có răng, gốc lá nhọn tới tròn. Hoa mọc thành chùm ở nách lá; 2 hay nhiều hoa, nụ hình trứng, chóp nhọn. Cuống hoa dài 0,2-0,5 cm, có lông; có lá bắc ở phía trên. Hoa mọc thành chùm ở nách lá; 2 hay nhiều hoa.
Hoa lưỡng tính; nụ hình trứng, chóp nhọn. Cuống hoa dài 0,2-0,5 cm, có lông; có lá bắc ở phía trên. 5 - Ứng dụng: Toàn cây kể cả rễ dùng chữa sốt rét, cảm mạo, sốt cao không giảm, viêm họng, viêm tuyến mang tai, sởi, lị, tiêu chảy, viêm ruột, lở ngứa ngoài da, trĩ, tràng nhạc, cũng dùng trị rắn độc cắn. Đun nước rửa loại mụn đóng vảy nến.
Vỏ thân cho sợi dùng dệt bao tải. + Cây Helicteres glabriuscula Wall. Cây Helicteres glabriuscula Wall. [trích nguồn Ydhvn.com] - Phân bố: Trên thế giới: loài Helicteres glabriuscula Wall.
phân bố ở Burma, Trung Quốc, Mianma. Ở Việt Nam: cây phân bố ở nhiều tỉnh Sơn la (Mộc Châu, Xuân Nha), Bắc giang, Thanh Hóa (Pù Luông: Bá Thước), Kon Tum. - Đặc điểm: cây bụi hoặc gỗ nhỏ, nhánh có lông rất mịn, vỏ có màu nâu sáng. Lá đơn, mọc cách, lá có hình bầu dục hay trứng hẹp thon dài, kích thước 1,5-2,5 x 5-7,5 cm, chóp nhọn, mép lá có răng cưa nhỏ, đều nhau, nguyên, gốc tròn, gân gốc 3 nổi rõ ở mặt dưới, gân bên 4-5 đôi, cặp gân ở gốc dài hơn cả, cuống lá dài khoảng 0,2-0,7 cm, cả 2 mặt có lông mịn ngắn đặc biệt ở mặt trên.
6 Lá kèm hình kim nhọn, dài bằng cuống lá. Hoa thường mọc đơn độc ở nách lá, lưỡng tính, nụ hình trứng; Quả nang, không xoắn, hình trụ thuôn dài hay gần tròn, có rãnh dọc, kích thước 1,5-2 x 0,4-0,5 cm, phủ lông, khi chín mở làm 5 mảnh vỏ. Hạt nhiều, rất nhỏ, vỏ nhăn nheo, màu đen. - Ứng dụng: Rễ trị sốt rét, lị, cảm mạo, sởi và rắn cắn.
+ Cây Helicteres lanceolata DC. (Thâu kén thon, Dó thon, Tổ kén lá mác) [2, 5] - Phân bố: Trên thế giới: cây Helicteres lanceolata DC. Phân bố ở các nước Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Indonesia và Việt Nam. Ở Việt Nam: cây phân bố ở một số tỉnh như: Quảng Ninh, Quảng Trị, Đà Nẵng, Kon Tum, Gia Lai, Phú Yên, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đặc điểm: Cây bụi, cao 2-3m, nhánh non có lông tơ mềm màu nâu rải rác. Lá đơn, mọc cách, hình thuôn, kích thước 0,5-1,5 x 3,5-7,5 cm, chóp nhọn, mép nguyên hoặc có răng cưa ở phía đỉnh, gốc lá nhọn, Hoa mọc thành chùm ở nách lá, chùm dài 1-2 cm. Nụ hình trứng, hoa lưỡng tính. Quả nang, không xoắn, hình trụ gần tròn, có khía rãnh, kích thước 0,5-0,7 x 1-2 cm, có mỏ nhọn, phủ đầy lông hình sao cứng dài.
Hạt nhiều, màu nâu hoặc đen, lõm. - Ứng dụng: Lá dùng để chế rượu thuốc bồi bổ cho phụ nữ sau khi sinh. Rễ trị cảm mạo, ho, bệnh sởi và lị. Một số kết quả nghiên cứu hoạt tính sinh học của chi Dó Các nghiên cứu sinh học của một số loài thuộc chi này đã chứng tỏ rằng dịch chiết của loài H.
isora có hoạt tính chống tiểu đường, giảm mỡ máu [9, 17, 18]; dịch chiết của H. hirsuta có hoạt tính độc tế bào [19]; dịch chiết của H. gardneriana thể hiện hoạt tính kháng ký sinh trùng gây bệnh sốt rét, leishmania…[16]; dịch chiết của loài H. thể hiện tác động phòng ngừa xơ gan tương tự silymarin 100 mg/kg ở chuột nhắt [1] và cao ethyl acetate loài H.
có khả năng chống oxy hóa tốt nhất, ở nồng độ 350 µg/mL khả năng bắt gốc tự do DPPH là 95,42% [4]. 7 Các nghiên cứu trước đây về chi Helicteres đã cho thấy các loài thuộc chi này chứa nhiều loại chất khác nhau như triterpenoid, flavonoid, neolignan, quinine [12, 22, 29, 31]. Thành phần hóa học một số loài chi Dó Helicteres a. và cộng sự đã tách được ba triterpenoid 1, 2, 3 có khung lupan từ rễ của loài H.
Năm 2008, khi nghiên cứu rễ của loài H.angustifolia, nhóm tác giả Min- Hsiung Pan và cộng sự đã phân lập 8 triterpen có cấu trúc đã biết và xác định được cấu trúc của 3 triterpen mới 4, 5, 6.