chương 1 thé hiện cái nhìn tổng thé về vấn đề nghiên cứu và đưa ra định hướng cho toàn bộ nghiên cứu. Đây chính là cơ sở đề triển khai nghiên cứu trong những chương tiếp theo. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng đã ra đời và phát triển từ khá sớm, vì vậy các nghiên cứu về du lịch, du lịch cộng đồng cũng như sự tham gia của cộng đồng trong phát trién du lịch được thực hiện khá phô biến ở các nước phát triển.
Mỗi nghiên cứu được tiếp cận dưới một góc độ khác nhau: Cộng đồng Khái niệm cộng đồng xuất hiện vào những năm 1940 tại các nước thuộc địa của Anh. Năm 1950, Liên Hợp Quốc công nhận khái niệm phát triển cộng đồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một công cụ dé thực hiện các chương trình viện trợ vào thập kỷ 50 — 60 Thé kỷ trước. Có nhiều khái niệm về cộng đồng được các nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội đưa ra với nhiều cách định nghĩa khác nhau. Theo Bưrr (1990) và được trích dẫn trong nghiên cứu của Pearce, Moscardo & Ross (1991), khái niệm cộng đồng được tiếp cận theo 4 cách [61]: - Cách tiếp cận sinh thái học (Ecological approach): Cộng đồng cùng sinh sông với nhau và thích nghi với một môi trường sống nhất định, nhờ quá trình này đã hình thành nên các đặc điểm đặc trưng dé phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác.
- Cách tiếp cận xã hội học (Social approach): Những vai trò và thể chế quản lý xã hội, mối quan hệ xã hội và dia vi của từng thành viên trong nhóm. - Cách tiếp cận tương tác (Interactive approach): Sự tương tác giữa các cá nhân hoặc tổng hòa các tương tác theo nhóm giữa con người và tô chức trong một khu vực địa lý nhất định. - Cách tiếp cận phê phán (Critical approach): Là các phe đối lập trong nhóm. Cách tiếp cận này chú ý tới quyền lực của nhóm chủ chốt trong quá trình ra quyết định.
Theo như UNEIS: Cộng đồng bản địa là những người dân và những quốc gia mà cộng đồng của những người này luôn giữ được một sự liên tục về lịch sử và xã hội của họ trong khi họ bị xâm lược hoặc thuộc địa. Cuộc sống của họ hoặc một phần cuộc sống của họ khác với xã hội hiện tại đang thịnh hành tại những lãnh thổ này. Họ sở hữu những lĩnh vực không chiếm ưu thế trong xã hội và được xác định dé bảo vệ, phát triển và trao cho thế hệ tương lai trên lãnh thô tô tiên của họ: Sự đặc trưng về dân tộc cũng như ton tại nét cơ bản theo như mẫu hình văn hóa, xã hội và hệ thống luật mà họ sở hữu. Năm 1988, Keith và Ary cho rằng: “Cộng đồng là một nhóm người thường sinh song trên cùng khu vực dia lý, tự xác định mình về cùng một nhóm.
Những người trong một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân và có thể thuộc cùng một tôn giáo, một tầng lớp chính trị” [49]. Khái niệm này nhấn mạnh yếu tổ địa vực là yếu tố quan trong tạo nên sự có kết tập thé bên cạnh yếu tô huyết thống, tôn giáo, chính trị. Từ điển Bách Khoa Việt Nam (2000): “Cộng đồng là một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú. Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc” [21].
Tác giả Sue BeeTon trong cuốn Commumnity Development through Tourism cho răng: “Cộng đồng có nguồn gốc từ Latin, mà dé cập đến tinh than rất cộng đồng, hoặc một cộng đồng không có câu trúc bên trong mà mọi người đều bình đăng”. “Hoặc cộng đồng là một nhóm người có cùng một tín ngưỡng, cùng sống trong một thời gian và một không gian nhất định” [67]. Tác giả Võ Qué trong cuốn Du lịch cộng dong lý thuyết và vận dung (2006) đã viết: “Khái niệm cộng đồng được cho là một khái niệm có nhiều tuyến nghĩa. Trong tuyến nghĩa khoa học xã hội bao gồm: Các thực tế xã hội có cơ cấu tô chức chặt chẽ hoặc không chặt chẽ, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định” [12].
Trong sách Du lịch cộng đồng tác giả Bùi Thị Hải Yến: “Cộng đồng địa phương là một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định được gọi tên như các đơn vị làng (bản, buôn, thôn, sóc), xã, huyện, tỉnh (thành phó) nhất định qua nhiều thế hệ và có những đặc điểm chung về các giá trị văn hóa truyền thống, bảo tồn, sử dụng chung các nguồn tài nguyên môi trường, có cùng mối quan tâm về kinh tế - xã hội, có sự gan két vé huyét thống, tình cảm và có sự chia sẻ nguồn lợi và trách nhiệm trong cộng đồng” [30]. Theo cuốn Phát triển cộng đồng do Nguyễn Hữu Nhân biên soạn: “Cộng đồng địa phương là tập hợp các nhóm người có chung địa bàn cư trú và có quyền sử dụng các tài nguyên ở địa phương đó” [11]. Du lịch cộng đồng và sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch Du lịch cộng đồng đang được biết đến như những quan điểm, giải pháp, tham gia vào phát triển du lịch bền vững. Theo tổ chức The Mountain Institute của Hoa Kỳ: “Du lịch cộng đồng là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại điểm du lịch vì sự phát triển du lịch lâu dài, đồng thời khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương và có cơ chế tạo ra cơ hội đem lại lợi ích cho cộng đồng” [10].
Theo quan điểm của Viện nghiên cứu va Phát triển nông thôn Việt Nam (2012): “Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch do người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu cho du khách các nét đặc trưng của địa phương (phong cảnh, văn hóa). Du lịch cộng đồng dựa trên sự tò mò, mong muốn của khách du lịch dé tìm hiểu thêm về cuộc sống hàng ngày của người dân từ các nền văn hóa khác. Du lịch cộng đồng thường liên kết với người dân thành thị đến các vùng nông thôn dé thưởng thức cuộc sông tại đó trong một khoảng thời gian nhất định” [29]. Tác giả Bùi Thị Hải Yến trong tài liệu Du lịch cộng đồng cho rằng: “Du lịch cộng đồng có thé được hiểu là phương thức phát triển du lịch bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch.
Cộng đồng nhận được sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế, của chính quyền địa phương, cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn, khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững, đáp ứng nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách dé mọi tầng lớp dân cư đều có thé sử dụng tiêu dùng các sản phẩm du lịch” [30]. Tùy góc độ, quan điểm và mục đích mà có những hướng nghiên cứu khác nhau, cộng đồng và phát triển du lịch tựu chung lại có một sé tiép cận nồi bật sau: - Hướng tiếp cận cộng dong tham gia phát triển du lịch: Với hướng tiếp cận này, cộng đồng được xem như thành phần quan trọng nhất hay chính là chìa khóa dé phát triển du lịch bền vững theo nhận định của các tác giả Murphy (1985) [57], McIntyre. G và cộng sự (1993) [54], Muhanna (2007) [56], Niezgoda và Czernek (2008) [58], Matarrita - Cascante và cộng sự [53]. Thậm chí, Figgis va Bushell còn khang định thêm răng: "Việc phát triển du lịch và bảo tồn mà phủ nhận các quyền và sự liên quan của CDDP là tự chuốc lấy thất bại nếu không đó cũng là hành động phi pháp" [55].
Do vậy van dé mau chốt là làm thé nào dé cộng đồng tham gia có hiệu quả nhất vào hoạt động du lịch. Theo Hamzah và Khalifah, để phát triển DLCĐ cần một cách tiếp cận hệ thống từ nghiên cứu sự phù hợp của cộng đồng đến việc đảm bảo cơ hội cho cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch [48]. Một tiêu chí quan trọng khác, đó là sự phân phối lợi ích đến tất cả các hộ gia đình trong cộng đồng và quyên sở hữu, quan lý các hãng kinh doanh thuộc về cộng đồng theo luận điểm của Goodwin va Santilli (2009) [44]. Cùng với đó Matarrita-Cascante và cộng sự (2010) [53], McIntyre và cộng sự (1993) [54], Muhamna (2007) [56], Niezgoda và Czernek (2008) [58] đều cho răng dé thực hiện được mục tiêu phát triển du lịch bền vững, các CDDP cần tham gia vào quá trình ra quyết định.
Ở khía cạnh khác Scheyvens. Tác giả này cũng dé xuất một khuôn khổ trao quyền cho CDDP ở bốn khía cạnh (kinh tế, tâm lý, xã hội và chính trị). Quỹ châu A và Viện phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam cũng dé cao van dé phải có sự tham gia của CĐĐP trong việc lập kế hoạch và quản lý du lịch như là điều kiện tiên quyết đề thực hiện thành công du lịch tại địa phương [29]. Trong khi đó các nhà nghiên cứu DLCD tại Thái Lan thường dé cao các yéu tố thuộc về năng lực cộng đồng.
Tuy vậy có thê thấy, trong rất nhiều các tài liệu về phát triển cộng đồng, các tác giả thường tập trung nhiều vào tầm quan trọng của việc tham gia hoặc không tham gia của cộng đồng trong quá trình quy hoạch và phát triển du lịch mà ít đi sâu nghiên cứu cách thức thiết thực dé CDDP tham gia, làm thé nào dé tham gia, và đến mức độ nào hoặc có cũng ở tầm vĩ mô như nghiên cứu của Mbaiwa (2005) và Timothy (1999) [69] theo nhận định của Michael Muganda và cộng sự [55]. Chỉ có một vài nghiên cứu của Aref và Redzuan (2009) [32], Matarrita- Cascante và cộng sự (2010) [53] và Tosun (2006) [73] có thực hiện một bước xa hơn dé kiểm tra sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch ở cấp cơ sở. Trong các nghiên cứu này, Tosun (2000) cho rang: CDDP ưa thích vai trò là người lao động và doanh nhân trong ngành du lịch. Điều này có thê thấy, có một khoảng trống rất lớn trong lý thuyết cộng đồng tham gia phát triển du lịch [72].