Chương 1: Những vấn để lí luận của việc nghiên cứu tên riêng. Chương 2: Đặc điểm cấu tạo tên riêng chỉ người ở huyện Tân Hồng. Chương 3: Ý nghĩa và đặc trưng xã hội của tên riêng chỉ người ở huyện Tân Hồng. CHƯƠNGI NHỮNG VÁN ĐÈ LÍ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU TÊN RIENG 1.
Vị trí của khoa nhân danh học trong ngôn ngữ học 'Tên riêng là một mảng tên gọi khá đặc biệt trong hệ thống từ vựng của môt ngôn ngữ. Chúng không chỉ có số lượng rất lớn, mà còn được cấu tạo. dưới nhiều hình thức rất phong phú và đa dạng như: tên người (Nhân danh), tên đất( Địa danh), tên gọi cơ quan, tổ chức còn gọi là (Hiệu danh), tên gọi sách báo, tên riêng của động vật (Đông vật danh), tên riêng của thực vật (Thực vật danh), tên gọi các đồ vật (Đồ vật danh). tên gọi các hiện tượng vũ trụ (Vũ trụ danh).
'Tên riêng tổn tại dưới hình thức các kí hiệu ngôn ngữ. Chính vì thế, chúng trở thành đối tượng nghiên cứu trước hết của ngôn ngữ học. Và trong ngôn ngữ học, tên riêng được nghiên cứu trong chuyên ngành đặc biệt ~ đó là môn tên riêng hay Danh xưng học (Onomatika). Môn tên riêng nghiên cứu.
những quy luật cơ bản về nguồn gốc phát sinh, thành phần cấu tạo, quá trình. phát triển và sự hoạt động của các tên riêng trong hệ thống ngôn ngữ. Ở thời kì đầu, môn tên riêng chú trọng đến hai lớp tên gọi quan trọng nhất trong hệ thống tên riêng- đó là tên người và tên địa lí. Chúng được nghiên cứu trong môt chuyên ngành riêng gọi là Nhân danh học (Anthroponymie) và Địa danh học (Toponymie).
Nhân danh học (anthroponymie) nghiên cứu về tên người. Nhiệm vụ chủ yếu của môn học này là nhằm phát hiện ra những quy luật cơ bản về qua trình hình thành, biến đổi và phát triển của tên người trên bình diện cầu trúc- chức năng lẫn bình diện lịch sử, xã hội. Cùng với địa danh học, nhân danh học xuất hiện ở Châu Âu vào những năm cuối của thế ki XIX và bắt đầu phát triển vào thế ki XX. việc nghiên cứu tên riêng nói chung và tên người nói riêng mới xuất hiện vào.
những năm 60-70 của thế ki XX. Hiện nay tên riêng chỉ người trong Tiếng 'Việt ngày càng thu hút nhiều nhà nghiên cứu. Nhân danh học và địa danh học chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống tên riêng. Tên người không chỉ là một kí hiệu định danh, gọi tên cho.
một người cá biệt và duy nhất, mà trong thành phần tạo nên chúng còn chứa. đựng những thông tin mang tính lịch sử, truyền thống, văn hoa, xã hộ đặc trưng cho mỗi cộng đồng đân tộc nhất định. Giới thuyết khái niệm về tên người 1. Về thuật ngữ “tên người” “Trong hệ thống tên riêng của một ngôn ngữ, tên người tạo thành một mảng tên gọi khá đặc biệt và có số lượng rất phong phú.
Do mỗi người có một tên gọi riêng, nên tên người có số lượng rắt lớn và khó xác định. So với các loại tên riêng khác, tên người tồn tại dưới nhiều hình thức rất phong phú và đa dạng như: tên tục, tên húy, tên hiệu, bút danh, biệt danh, nghệ danh, danh xưng. Đa số, các nhà nghiên cứu đều đồng ý với cấu trúc của tên người Việt Nam gồm có 3 phần chính: Họ + Tên Đệm + Tên Chính. Tuy nhiên đối với toàn bộ cấu trúc "Họ + Tên Đệm + Tên Chính” có nhiều cách gọi khác nhau.
như: tên người, tên chỉ người, tên riêng chỉ người, tên gọi người. Đối với các thành tố “tên đệm” có người dùng bằng thuật ngữ “tên lót”. Đối với "tên cá nhân” tức là bộ phận thứ ba trong cấu trúc tên, thì cũng có. nhiều cách gọi khác nhau nhý: tên, tên riêng, tên gọi, tên chính, “Trong số các hình thức tên gọi người n rên, tên ;hật (còn gọi là tên húy, tên chính, chính danh, nguyên tê „ tên khai sinh hay tên cái) là một hình thức tên gọi cơ bản và chủ yếu nhất.
Bởi vì, tên thật có những trưng như sau: Tên thật là loại tên gọi thường được cha mẹ đặt cho từ khi sinh ra cho. đến khi mất đi. Các hình thức tên gọi khác có thể do chính người có tên đặt khi họ đã trưởng thành. 13 Tên thật không chỉ dùng để gọi ma còn có giá trị về mặt pháp lí.
Chúng phải được đăng kí chính thức trong các số hộ tịch của chính quyền địa phương và được sử dụng trong các văn bản hành chính của nhà nước như: giẩy khai sinh, chứng minh thư, bản khai lý lịch. các văn bằng chứng chỉ. Điều này đã được ghi rõ trong “Điểu lệ đăng kí hộ tịch” do Chính phủ ban hành. Các hình thức tên gọi người khác có thể không cần tuân theo những thủ.
tục hành chính như vậy. Tên thật có phạm vi sử dụng rất rộng lớn, và trong mọi hoàn cảnh giao. tiếp khác nhau. Các hình thức tên gọi khác có phạm vi sử dụng tương đối hạn.
chế và có thể được thay đổi tuỳ thuộc vàoý muốn chủ quan của ngt ï có tên. Chẳng hạn, rên rực là tên gọi khi ở nhà giữa những người thân trong gia đình. Khi trưởng thành, ngoài tên thật, một người nào đó có thể còn có. một hay nhiều tên gọi khác tuỳ thuộc vào nghề nị p.
chức danh hay địa vị của người đó trong xã hội. Chẳng hạn, bút danh là tên gọi khác tên thật của các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ hay nhà khoa học. Bí danh hay mật danh: thường là tên gọi khác tên thật của các nhà hoạt động cách mạng. 'Về cấu tạo, rên thật phải được tạo thành từ 3 yếu tố: tên họ.
tên đệm và tên cá nhân. Các hình thức tên gọi người khác đơn giản hơn và thường chỉ: gồm một thành tố. 'Về ý nghĩa, ngoì trị khu biệt về tính cá thể đơn nhất, tên thật còn. thể hiện những đặc trưng vẻ gia đình, dòng họ và cả những dấu hiệu mang.
tính dân tộc của người có tên. Việc thay đổi tên thật không phải diễn ra một cách tuỳ tiện, mà phải được sự chấp nhận của cơ quan quản lí hộ tịch. Sự thay đổi của các loại tên người khác không cần phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt này. Chính vì tên thật có vai quan trọng trong hệ thống tên riêng Tiếng Việt, nên trong luận văn này, chúng tôi đã chọn loại tên gọi này để làm đối tượng 14 nghiên cứu cho mình.
Đối với tên gọi của các thành tố tham gia vào cấu trúc. tên chính, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “tên độm” thay cho cách gọi “rên lót”. Dùng thuật ngữ “tên cá nhân ” để thay cho cách gọi “tên riêng”. Về khái niệm “Tổ hợp định danh” 'Khái niệm rổ hợp định danh được tác giả Phạm Tắt Thắng sử dụng vào.
năm 1996, để chỉ cấu trúc tên gọi người Việt. Theo ông, tên chính của người Việt là một tổ hợp định danh bao gồm ba danh tô kết hợp chặt chẽ với nhau. theo trật tự: họ- tên đệm- tên cá nhân. Mỗi một danh tố đó là một đơn vị định danh riêng biệt.
Chúng có cấu trúc riêng và có khả năng tách ra khỏi tên gọi để hoạt động động tương đối độc lập. “Tác giả cho rằng: cùng với các đơn vị định dạng khác trong hệ thống vốn từ Tiếng Việt, tên người Việt là một đơn vị định danh. Chức năng chủ. yếu của chúng là dùng để gọi tên một người trong sự phân biệt với người khác trong cộng đồng.
Về cấu tạo, tên người Việt là một loại tên gọi có cấu. trúc phức hợp dưới hình thức một tổ hợp các yếu tố định danh đơn nhất. Mỗi một yếu tố định danh đơn nhất này được gọi là một danh rổ. Danh rổ là một đơn vị trục tiếp để tạo thành một Tổ hợp định danh.
Trong mỗi tổ hợp định. danh có loại danh tố đó là danh tổ họ (còn gọi là tên họ), danh tổ đệm (còn ọi là tên đệm), danh tổ tên cá nhân (còn gọi là tên cá nhân). Trừ danh 16 đệm luôn có cầu tạo đơn tiết (tiếng, chữ), các danh tổ còn lại có cầu trúc đơn. âm tiết tham gia vào việc tạo thành các danh tố, như vậy chúng được gọi là thành tó.
Thành 16 là đơn vị nhỏ nhất, là đơn vị cơ sở đề tạo nên các danh tố. “Trong tổ hợp định danh tên người, thành tố không có chức năng định danh, mà chỉ là yếu tố tạo nên các đơn vị định danh. Do thành tổ có hình thức trùng. với âm tiết nên trong tổ hợp định danh tên người việt có một số lượng khá lớn các danh tố trùng với thành tố.
15 Trong 16 hop dinh danh. danh tô luôn kết hợp chặt chẽ với nhau theo quan hệ đẳng lập trên cùng một trục tuyến tính và theo trật tự: Họ, đệm, tên cá. Do đó, mô hình tổng quát của tổ hợp định danh tên người Việt là: Họ- Đệm- Tên cá nhân Đây là một khái niệm phản ánh đúng với cấu trúc chức năng của tên gọi người Việt. Chính vì thể, chúng tôi sử dụng khái niệm này để làm cơ sở lí thuyết cho việc nghiên cứu của mình.
Tuy nhiên, chúng tôi sử dụng các thuật ngữ rềm họ thay cho "danh tố họ”, rên độm thay cho “danh tố đệm” và rên cá nhiên thay cho “danh tố tên cá nhân” mà tác giả Phạm Tắt Thắng đã sử dụng trước đây. 13 Về trưng của tên riêng.1 Sự khác biệt giữa tên riêng và ten chung Đối ví một số ngôn ngữ, về vấn đề hệ thống vốn từ có sự đị lập giữa hai hệ thống tên gọi hoàn toàn khác nhau: rên riểng và rên chưng. Quyền Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học giải thích tên riêng như sau: *Từ, cụm từ hoặc câu dùng để tách biệt đối tượng được gọi tên ra khỏi tập hợp các đối tượng khi cá thể hóa chúng. Đặc điểm của tên riêng là dùng để gọi tên (kí hiệu) người hoặc các sự vật riêng lẻ, không liên quan gì đến đặc trưng của chúng, tức là không có sự tương ứng giữa tính chat của sự vật được gọi tên (kí hiệu) và nghĩa của từ, cụm từ hoặc câu”[ 55; 27].
Còn trong quyền Từ loại danh từ Tiếng Việt, tác giả Nguyễn Tài Cẩn đã. viết: “cũng như ở các ngôn ngữ khác, trong danh từ tiếng việt cũng cần ph¿ tách danh từ riêng thành một tiểu loại đặc biệt. Bắt kì đó là nhân danh hay địa danh, n sách báo hay tên gọi tổ chức, tên gọi thời đại, danh từ riêng bao gi cũng có đặc điểm là chỉ dùng để gọi tên một sự vật duy nhất cá biệt.