CHƯƠNG 1. Các nguyên nhân gây hư hỏng nông sản sau thu hoạch Từ lâu chúng ta đã biết, trái cây đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp vitamin, khoáng chất và chất xơ cần thiết cho con người. Trên thực tế, có nhiều nguyên nhân gây hư hỏng ở rau quả bao gồm: hư hỏng cơ học, hư hỏng do vi sinh vật, hư hỏng do quá trình sinh lý-sinh hóa của rau quả. Trước hết, hư hỏng cơ học đối với trái cây chủ yếu xảy ra trong quá trình thu hoạch nhưng cũng có thể trong quá trình phân loại và đóng gói, quá trình vận chuyển và xử lý ở cuối chuỗi cung ứng, như quá trình bày bán và lựa chọn sản phẩm của người bán lẻ và người tiêu dùng [3].
Xử lý không đúng cách trong quá trình thu hoạch, phân loại, đóng gói và vận chuyển có thể dẫn đến cấu trúc tế bào của trái cây bị tổn thương do va đập hay nén. Sự hỏng hóc về cấu trúc có thể làm tăng khả năng bị phân hủy và sự phát triển của vi sinh vật. Bên cạnh đó, dấu hiệu do hư hỏng cơ học là ở bên ngoài các quả có vết bầm tím hoặc vết nứt. Thiệt hại do va đập thường xảy ra khi quả rơi tự do từ cây xuống đất trong quá trình thu hoạch hoặc trong các tác động giữa các quả với nhau hay giữa chúng với bao bì hoặc thùng chứa.
Hư hỏng do va đập là nghiêm trọng nhất trong quá trình xử lý trái cây [4]. Mầm bệnh gây hư hỏng trái cây có thể đến từ nhiều phương diện khác nhau như: hấp thụ đất và nước ngầm bị ô nhiễm, sử dụng phân bón thô hoặc chất thải, nhiễm vi sinh vật (vi khuẩn, nấm mốc.) qua không khí, tiếp xúc lẫn nhau hay thậm chí tồn tại chính trong mô bào, mao quản trong hoa quả. Trên thực tế, ô nhiễm sau thu hoạch xảy ra trong quá trình xử lý trước thu hoạch, bao gồm đất, phân bón, nước tưới, thuốc diệt nấm, thuốc diệt côn trùng, bụi, côn trùng, động vật hoang dã và vật nuôi [6]. Các tác nhân bên ngoài này sẽ tạo điều kiện là nơi trú ẩn của vi sinh vật gây bệnh sẵn có trong trái cây.
Hoa quả còn có thể hư hỏng do quá trình sinh lý - sinh hóa. Sau khi thu hoạch, trong quá trình chín của trái cây vẫn xảy ra các quá trình hô hấp, quá trình sản sinh ethylen, sinh nhiệt, bay hơi, giảm khối lượng và thay đổi thành phần hóa học [7]. Hô hấp là một quá trình sinh lý nhằm duy trì sự sống của nông sản, đây là quá trình trao đổi chất mà trong đó một số chất hữu cơ trong tế bào (tinh bột, đường, lipid) bị oxy hóa thành các chất đơn giản hơn đồng thời sinh ra năng lượng cung cấp cho hoạt động sống của tế bào. Quả thường có 2 loại hô hấp: Hô hấp (LUAN.san luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.san 4 thường và hô hấp đột biến.
Một số quả (chuối, bơ, xoài, táo…) tăng nhanh tốc độ hô hấp và chín rất nhanh sau thu hoạch gọi là đột biến hô hấp. Đối với một số quả (cam, nho, dâu tây, dứa…) cường độ hô hấp giảm dần sau thu hoạch gọi là hô hấp thường. Quá trình chín của quả hô hấp thường lâu hơn so với quả đột biến hô hấp. Bên cạnh đó, trong quá trình chín sau thu hoạch có sự chuyển hóa các chất, mỗi loại quả có quá trình chuyển hóa khác nhau.
Nông sản đạt đến trạng thái chín thường có chất lượng tốt nhất nhưng lại dễ bị hư hỏng do các yếu tố bên ngoài (độ ẩm, nhiệt độ, vi sinh vật, tác động con người.) dẫn đến sự tổn thất về khối lượng và chất lượng [8]. Một số phương pháp bảo quản nông sản sau thu hoạch 1. Phương pháp bảo quản lạnh Bảo quản lạnh được coi là phương pháp tốt nhất được sử dụng để bảo quản trái cây và rau quả. Phương pháp này dùng nhiệt độ thấp làm ức chế các hoạt động của vi sinh vật, nhờ đó làm chậm thời gian hư hỏng của trái cây (Hình 1.
Bảo quản hoa quả bằng phương pháp lạnh (Nguồn: Internet) Trong quá trình làm lạnh, hầu hết thành phần nước lỏng của nguyên liệu thực phẩm được chuyển thành nước đá, do đó làm chậm các thay đổi vật lý và sinh hóa liên (LUAN.san luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.san 5 quan đến sự hư hỏng của rau quả cũng như sự phát triển của vi sinh vật gây hư hỏng. Trái cây và rau chứa khoảng 85-90 % nước kết tinh trong quá trình đông lạnh. Quá trình đông lạnh ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật, giảm hoạt động của nước và giảm các phản ứng hóa học và enzym. Theo Jaiswal và cộng sự, nhiệt độ giảm trong quá trình đóng băng cản trở các phản ứng trao đổi chất diễn ra trong trái cây và rau sau khi thu hoạch [9].
Để kiểm tra chế độ bảo quản rau quả tươi, trong kho bảo quản thường có lắp thêm một số thiết bị như nhiệt kế, thiết bị đo độ ẩm, hệ thống đo điều chỉnh dòng khí, nhiệt độ. Với mỗi loại rau quả khác nhau thì cần chọn nhiệt độ bảo quản cho thích hợp. Tuy nhiên, phương pháp này vẫn có nhược điểm là nhiều loại rau và hầu hết trái cây mất đi độ giòn khi đông lạnh và một số loại rau quả cũng thay đổi kết cấu khi đông lạnh và không có mùi vị giống như khi rã đông. Phương pháp điều chỉnh khí quyển Các phương pháp điều chỉnh khí quyển được sử dụng rộng rãi hiện nay là kiểm soát khí quyển (CA) và công nghệ bao gói khí điều biến (MAP).
Phương pháp CA là phương pháp trong đó môi trường được điều chỉnh sao cho thành phần của O2 thấp hoặc CO2 cao hoặc cả 2 yếu tố [10]. Không khí được đo hoặc điều chỉnh liên tục trong suốt quá trình bảo quản. Phương pháp này thường được sử dụng trong kho chuyên dùng cho bảo quản kiểm soát khí quyển hoặc ở container (Hình 1. Kho chuyên dùng bảo quản chuối bằng phương pháp CA (Nguồn: Internet) (LUAN.san luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.san 6 Ngoài ra hiện nay phương pháp bao gói bằng khí điều biến (MAP) đang được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp thực phẩm.
MAP là phương pháp bảo quản trong môi trường không khí được điều chỉnh để ức chế các tác nhân gây hư hỏng thông qua lớp màng polyme chắn khí như PE, PP. MAP có tác dụng giảm tỉ lệ hô hấp và thất thoát nước trong hoa quả với môi trường bên ngoài dẫn đến thời gian bảo quản được kéo dài. Ưu điểm của phương pháp điều chỉnh khí quyển là thời gian bảo quản có thể tăng lên đến 4 lần, giảm tổn thất khối lượng, giữ được độ tươi của sản phẩm, bên cạnh đó vẫn còn có các nhược điểm như giá thành cao, tiêu tốn năng lượng do phải kiểm soát nhiệt độ tương đối chặt chẽ. Bảo quản vải thiều Lục Ngạn bằng phương pháp MAP (Nguồn: Internet) 1.
Phương pháp sử dụng hóa chất Một số hợp chất hóa học đã được sử dụng để giảm số lượng vi sinh vật, côn trùng trên trái cây và chúng vẫn là phương pháp xử lý được sử dụng rộng rãi nhất trước và sau khi thu hoạch (Hình 1. Hóa chất sử dụng có thể tiêu diệt các vi sinh vật và côn trùng nhưng ít độc với con người. Đặc biệt, các hóa chất gốc clo như: Clo lỏng, hypoclorit và clo dioxit, thường được sử dụng ở mức 50-200 ppm và thời gian dùng dưới 5 phút [12]. Hiện nay, một số loại hóa chất vẫn đang được sử dụng (LUAN.san luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.san 7 như lưu huỳnh dioxit (SO2), cacbon monoxit (CO), natri nitrat (NaNO3) và natri benzoate (NaC6H5CO2).
Hoa quả được bảo quản bằng cách ngâm trong bể hóa chất (Nguồn: Internet) Ưu điểm của phương pháp này là dễ sử dụng, giá thành thấp, có thể bảo quản được với số lượng lớn trái cây. Tuy nhiên, vì lợi ích kinh tế nhiều trường hợp sử dụng quá nhiều hóa chất bảo quản gây nguy hại đến sức khỏe và tính mạng con người. Ví dụ: Nếu kết hợp natri benzoate với axit ascorbic sẽ tạo ra hóa chất độc hại làm ảnh hưởng đến máu và thần kinh, có thể gây ngộ độc. Lưu huỳnh dioxit sử dụng để làm hạn chế màu nâu trên vỏ các loại hoa quả, tuy nhiên hóa chất này có thể gây ra dị ứng, hen ở con người.
Hay các phương pháp xử lý với nước khử trùng bằng clo đã và đang được áp dụng truyền thống để khử vi khuẩn trên các sản phẩm tươi sống, nhưng ở một số quốc gia Châu Âu bao gồm Đức, Hà Lan, Thụy Sĩ và Bỉ, việc sử dụng clo trong các sản phẩm chế biến sẵn bị cấm do độc tính tiềm ẩn của chúng [15]. Nước xử lý hoa quả chứa hóa chất, nếu không được xử lý triệt để sẽ gây ô nhiễm lớn đối với nguồn nước, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và sức khỏe con người. Phương pháp chiếu xạ Phương pháp chiếu xạ là phương pháp dùng các bức xạ ion hóa như tia gamma, tia X hoặc chùm tia điện tử chiếu lên trái cây nhằm suy giảm hoặc loại bỏ các vi sinh vật và côn trùng giúp cho thời giản bảo quản trái cây được kéo dài (Hình 1.san luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail. Trái cây được bảo quản bằng phương pháp chiếu xạ tia gamma Cobalt-60 (Nguồn: Internet) Ứng dụng tiềm năng của chiếu xạ trong chế biến thực phẩm dựa trên thực tế là bức xạ ion hóa làm ảnh hưởng đến DNA khiến các tế bào sống không hoạt động, do đó vi sinh vật, giao tử côn trùng bị ngăn cản sinh sản.
Đồng thời, các biến đổi hóa học khác do bức xạ gây ra trong thực phẩm là rất ít. Hơn nữa, công nghệ chiếu xạ được chứng minh là có hiệu quả đáng kể trong việc giảm thất thoát sau thu hoạch [17]. Chiếu xạ gamma được sử dụng để hạn chế sự nảy mầm của của rau củ, tiêu diệt sâu bệnh trong ngũ cốc, và mang lại những thay đổi về hóa- lý của thực phẩm, và còn dùng để khử trùng rau quả khô, trái cây, gia vị. Trên thế giới, chiếu xạ thực phẩm đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO) và Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) coi là công nghệ an toàn và hiệu quả.
Hiện nay, theo Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), có ba nguồn phóng xạ được phê duyệt để sử dụng trên các loại thực phẩm.