MỞ ĐẦU I.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc Năm 2005, Patchra K. và cộng sự [44] đã sử dụng chitosan dạng vảy (độ deacetyl 85%) để tách và làm giàu đồng thời các ion Cu, Pb và Cd trong dung dịch lỏng cho kỹ thuật phân tích phổ hấp thụ nguyên tử (AAS). Nghiên cứu ảnh hƣởng của pH đƣợc duy trì ở khoảng pH 5- 8.
% hấp phụ các ion Cu, Pb và Cd cao nhất tại pH 6 và hiệu suất đạt đƣợc lần lƣợt là 66%, 45% và 62% ứng với 25ml dung dịch ion kim loại có nồng độ ban đầu là 40 mg/L trong 0,2 g chitosan. Nồng độ EDTA thích hợp để giải hấp các ion kim loại sau khi đƣợc hấp phụ là 0,1M ở pH 6. Theo nghiên cứu này, nhóm amino và hydroxyl trên bề mặt của chitosan tạo phức chelate mạnh với nhiều ion kim loại và có thể sử dụng chitosan để loại Cu2+, Pb2+ và Cd2+ ra khỏi nƣớc thải. Tác giả cũng đã kết luận có thể sử dụng chitosan dạng vảy để làm giàu ion kim loại trong nƣớc thiên nhiên.
Năm 2006, Ping Ding và cộng sự [46] đã nghiên cứu hấp phụ Zn(II) trên các dẫn xuất của chitosan (KCTS và HKCTS). KCTS đƣợc tổng hợp từ phản ứng của chitosan và axit α-ketoglutaric, HKCTS đƣợc tổng hợp từ phản ứng của KCTS và dicyclohexylcarbodiimide và hydroxylamine hydrochloride. Khả năng hấp phụ của các dẫn xuất chitosan bắt đầu đạt trạng thái bão hòa khi nồng độ kẽm trong pha rắn vƣơn tới 20mg/g. Năm 2006, Wan Ngah và cộng sự [65] đã nghiên cứu hấp phụ chromium trong dung dịch lỏng trên chitosan dạng hạt.
Nghiên cứu ảnh hƣởng của pH cho thấy, đối với Cr(III), khả năng hấp phụ đạt cực đại tại pH 5, ở pH 6 Cr(III) bắt đầu bị kết tủa. Đối với Cr(VI), khả năng hấp phụ đạt cực đại tại pH 3. Mô hình hấp phụ Langmuir và Freundlich đƣợc dùng để mô tả cân bằng hấp phụ của chromium trên chitosan dạng hạt. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng cân bằng hấp phụ tuân theo mô hình hấp phụ Langmuir, khả năng hấp phụ cực đại tại giá trị pH tối ƣu của mỗi ion Cr(III) và Cr(VI) lần lƣợt là 30,03 và 76,92 mg/g.
Từ kết quả đạt đƣợc, tác giả kết luận rằng chitosan dạng hạt là chất hấp phụ tốt có thể đƣợc sử dụng để loại bỏ các ion Cr(III) và Cr(VI) trong dung dịch nƣớc. -1- Luan van NCKH-T2014-49TD CHƢƠNGI CHƢƠNG I TỔNG QUAN I. CÁC PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ NƢỚC THẢI CHỨA KIM LOẠI NẶNG Trong thực tế, một hệ nƣớc thải nào đó có thể chứa một hay nhiều kim loại nặng khác nhau với nồng độ của mỗi kim loại nặng trong đó cũng khác nhau, điều này dẫn đến việc lựa chọn phƣơng pháp xử lý cho phù hợp với mục đích xử lý là rất quan trọng. Dƣới đây tóm tắt một số phƣơng pháp công nghệ đã đƣợc nghiên cứu, áp dụng để xử lý kim loại nặng trong nƣớc thải.
Phƣơng pháp hấp phụ[12, 58] Phƣơng pháp hấp phụ đƣợc sử dụng rộng rãi để làm sạch triệt để nƣớc thải. Đây là phƣơng pháp tối ƣu để loại bỏ các chất ô nhiễm hòa tan hoặc tồn tại dƣới dạng hệ keo. Quá trình hấp phụ đƣợc sử dụng để tách các chất hữu cơ và vô cơ trong nƣớc thải bị ô nhiễm. Quá trình hấp phụ thƣờng sử dụng các chất hấp phụ nhƣ than hoạt tính, đất sét, silicagen, keo nhôm, chitosan,.trong đó than hoạt tính là chất hấp phụ thông dụng nhất.
Bản chất quá trình hấp phụ chính là việc vận chuyển các chất ô nhiễm từ trong nƣớc thải vào bên trong chất hấp phụ. Tốc độ quá trình hấp phụ phụ thuộc vào nồng độ, bản chất và cấu trúc của các chất tan, nhiệt độ của nƣớc, loại và tính chất của chất hấp phụ. Nhiều kết quả thực nghiệm sử dụng phƣơng pháp này để xử lý kim loại nặng đem lại kết quả khá tốt. Phƣơng pháp điện hóa[41, 58] Phƣơng pháp điện hóa sử dụng các quá trình oxy hóa của anot và khử của catot, đông tụ điện, …để làm sạch nƣớc thải khỏi các tạp chất hòa tan và phân tán.
Phƣơng pháp điện hóa cho phép lấy ra từ nƣớc thải các sản phẩm có giá trị bằng các công nghệ tƣơng đối đơn giản và có thể tự động hóa hoàn toàn mà không cần sử dụng các tác nhân hóa học. Quá trình có thể tiến hành một cách gián đoạn hoặc liên tục. Hiệu suất xử lý của quá -7- Luan van NCKH-T2014-49TD CHƢƠNGI trình phụ thuộc vào các yếu tố nhƣ mật độ dòng điện (A/cm2), điện áp một chiều dùng trong thiết bị xử lý (Vôn), hệ số sử dụng hữu ích điện áp, hiệu suất theo dòng, hiệu suất theo năng lƣợng. Phƣơng pháp điện hóa bao gồm hai quá trình song song: - Quá trình oxy hóa anot - Quá trình khử catot Trong đó quá trình khử catot đƣợc ứng dụng để loại bỏ các ion kim loại ra khỏi nƣớc thải dƣới dạng bùn cặn nhằm chuyển các cấu tử gây ô nhiễm thành các hợp chất ít độc hơn hoặc về dạng dễ tách ra khỏi nƣớc nhƣ cặn, khí.
Quá trình này có thể đƣợc sử dụng để làm sạch nƣớc thải chứa các ion kim loại nhƣ: Pb2+, Sn2+, Hg2+, Cu2+, As3+ và Cr6+. Phƣơng pháp điện hóa sử dụng trong xử lý nƣớc thải để khử độc hoặc thu hồi kim loại quý trên điện cực anot dƣới tác dụng của dòng điên một chiều, chẳng hạn nhƣ nƣớc thải mạ niken, mạ bạc, các nhà máy làm giàu quặng kim loại, các xƣởng tẩy gỉ kim loại. Phƣơng pháp trao đổi ion [58] Phƣơng pháp trao đổi ion cũng đƣợc dùng để tách các kim loại ( Zn, Cu, Cr, Ni, Hg, Cd, V, Mn,.), các hợp chất của As, P, CN- và các chất phóng xạ ra khỏi nƣớc. Phƣơng pháp này cho phép thu hồi các chất có giá trị với độ thu hồi hiệu quả cao.
Tuy nhiên do đầu tƣ kinh phí cho hệ thống xử lý bằng phƣơng pháp này rất lớn nên trong thực tế hiện nay ở Việt Nam mới chỉ áp dụng để làm mềm nƣớc sử dụng cho lò hơi, sản xuất hóa chất tinh khiết, hóa dƣợc… Bản chất của quá trình trao đổi ion là quá trình tƣơng tác pha rắn với dung dịch trong đó chất rắn có thể trao đổi các ion của nó với các ion khác có trong dung dịch. Các cấu tử của pha rắn này đƣợc gọi là ionit không tan trong nƣớc. Các ionit có khả năng hấp thụ các ion dƣơng đƣợc gọi là cationit và các ionit có khả năng hấp thụ các ion âm đƣợc gọi là anionit. Nếu ionit vừa trao đổi cation và anion ngƣời ta gọi chúng là ionit lƣỡng tính.
Cationit có tính axit, còn anionit có tính kiềm. -8- Luan van NCKH-T2014-49TD CHƢƠNGI Ví dụ khi xử lý nƣớc thải mạ điện chứa ion Ni xảy ra các phản ứng hóa học chính nhƣ sau: Khi dùng nhựa cationit gốc axit mạnh (-SO3H) Ni2+ + 2HR NiR2 + 2H+ Phản ứng hoàn nguyên cationit dùng H2SO4 5%: NiR2 + nH+ 2HR + Ni2+ + (n-2)H+ Các phản ứng trao đổi trên diễn ra cho đến khi phản ứng đạt trạng thái cân bằng. Tốc độ phản ứng phụ thuộc vào các yếu tố: chế độ thủy lực của dòng nƣớc thải trong thiết bị trao đổi ion, nồng độ các ion kim loại trong nƣớc thải, lƣợng cặn bẩn trong nƣớc thải, tính chất của các hạt ionit cũng nhƣ của các ion cần trao đổi trong nƣớc thải. Các chất trao đổi ion có thể là các chất có nguồn gốc vô cơ hoặc hữu cơ nhƣ: zeolit, đất sét, fensfat, silicagen, than hoạt tính… Quá trình trao đổi ion có thể tiến hành qua một số giai đoạn: 1.
Vận chuyển các ion A từ trong dòng chất lỏng đến mặt ngoài màng biên bao quanh hạt ionit. Khuếch tán các ion qua lớp biên. Vận chuyển ion qua bề mặt phân chia pha vào hạt nhựa. Khuếch tán ion A vào trong hạt đến các nhóm trao đổi ion 5.
Phản ứng trao đổi ion A và B. Khuếch tán ion B bên trong hạt đến bề mặt phân chia pha. Chuyển ion B qua bề mặt phân chia pha đến mặt trong màng biên. Khuếch tán ion B qua màng.
Khuếch tán ion B vào trong lòng chất lỏng. Phƣơng pháp kết tủa [12, 58] Phƣơng pháp kết tủa đƣợc sử dụng nhiều trong xử lý nƣớc thải chứa kim loại nặng. Các tác nhân kết tủa thƣờng đƣợc sử dụng là các hydroxyl, cacbonat, sunphat kim loại -9- Luan van NCKH-T2014-49TD CHƢƠNGI kiềm và một vài chất khác. Nhiều hydroxyt kim loại kết tủa ở pH từ 8 – 11, chúng đƣợc tách ra khỏi dung dịch.
Các ion kim loại Mn2+, Ni2+, Co2+ có thể đƣợc loại bỏ hoàn toàn bằng phƣơng pháp kết tủa nhờ các tác nhân kết tủa Ca(OH)2 hay NaOH, Na2CO3. Độ tan của các hydroxyt kim loại nặng đạt tới giá trị nhỏ nhất thƣờng là tại giá trị pH trong khoảng 9 – 11, sau đó tăng dần theo sự tăng các giá trị pH do sự tạo thành của các phức hydroxyt tan theo phản ứng sau: Zn(OH)2(r) + OH- Zn(OH)- 3 Ví dụ: Quá trình phản ứng kết tủa Ni2+ xảy ra theo phản ứng sau (ở điều kiện pH = 9 – 11) NiSO4 + Ca(OH)2 Ni(OH)2 + CaSO4 Các ion kim loại sau khi đƣợc chuyển vào kết tủa dƣới dạng hydroxyt kim loại đƣợc tách ra bằng phƣơng pháp lắng, lọc. Sau đó ngƣời ta điều chỉnh pH về giá trị 5,5 – 8 trong giá trị cho phép của nƣớc thải. Phƣơng pháp keo tụ [58] Keo tụ là hiện tƣợng tạo thành tập hợp lớn từ các tập hợp nhỏ, do nhiều cơ chế khác nhau có thể chia thành hai giai đoạn chính là khử tính bền của hạt keo và tạo ra liên kết ngang giữa chúng.
Keo tụ là phƣơng pháp làm trong và khử màu nƣớc thải bằng cách dùng các chất keo tụ hoặc các chất trợ keo tụ để liên kết các chất bẩn ở dạng lơ lửng và tạo thành các bông có kích thƣớc lớn hơn. Các bông đƣợc tách ra khỏi nƣớc thải bằng cách lắng, lọc. Trong quá trình keo tụ ngoài việc tách bỏ các kim loại nặng ta còn đồng thời loại bỏ đƣợc cả những hạt keo không thể loại bỏ đƣợc bằng phƣơng pháp thông thƣờng. Các chất keo tụ thƣờng đƣợc sử dụng là phèn nhôm, muối sunphat sắt để tách các ion kim loại nặng nhƣ Pb2+, Cd2+, Cr6+, Zn2+, Ni2+, Hg2+, Co2+,… 1.
Xử lý kim loại nặng bằng phƣơng pháp sinh học [58] Phƣơng pháp sinh học để xử lý kim loại nặng trong nƣớc thải hiện nay đã đƣợc nhiều chuyên gia công nghệ trong và ngoài nƣớc tập trung nghiên cứu và đã đạt đƣợc một số kết quả nhất định. - 10 - Luan van NCKH-T2014-49TD CHƢƠNGI Nguyên lý của phƣơng pháp này là sử dụng các vi sinh vật để tiêu hủy các ion kim loại nặng trong nƣớc thải.