CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐIỆN CỰC TRÊN ĐẾ POLY (ETYLEN TEREPHTALAT) 1. Giới thiệu chung về poly (etylen terephtalat) Ngày nay, polyme đã trở thành một loại vật liệu rất linh hoạt, mềm dẻo khó có thể thay thế trong công nghệ hiện đại.
Chúng có chi phí sản xuất thấp, chế tạo dễ dàng, nhanh chóng với lượng lớn. Trong đó, poly (ethylene terephthalate) (PET) là loại polyme “polyester” nhiệt dẻo được sử dụng phổ biến nhất. PET là một loại polymer có tính chất vật lý tuyệt vời với độ trong suốt cao, cơ tính tốt và có độ đàn hồi, khả năng ổn định kích thước khi phải chịu lực tác động từ bên ngoài như nén, kéo dãn hay xoắn… Ngoài ra PET còn có khả năng kháng hóa chất khá tốt. PET được sử dụng rộng rãi dưới dạng chai, màng ổn định nhiệt (trong các ứng dụng như tụ điện, băng ghi âm…).
PET cũng được ứng dụng để sản xuất sợi tổng hợp trong ngành dệt may. Nó chiếm khoảng 20% tổng các loại polymer được sản xuất trên toàn thế giới [1]. Điện cực dẻo chế tạo trên đế PET Những năm gần đây, thiết bị điện tử dẻo, có thể chịu được áp lực từ bên ngoài như uốn cong, kéo dãn, xoắn…Do đó điện cực thủy tinh không còn được ưa chuộng nữa, mà thay vào đó các nhà khoa học đang nghiên cứu và chế tạo điện cực trên một bề mặt PET. Điện cực dẻo Indium Tin Oxit (ITO) ITO là loại vật liệu truyền thống và được sử dụng nhiều nhất nhất để chế tạo điện cực ứng dụng trong lĩnh vực quang điện tử.
Tuy nhiên, khi sử dụng ITO chế tạo điện cực trên đế PET thì nó bị vấp phải một số nhược điểm như: điện trở của điện cực ITO/PET cao hơn nhiều so với điện cực ITO trên đế thủy tinh. Nhược điểm tiếp theo đó là về cơ tính của ITO, ITO giòn và dễ bị vỡ vụn khi bị uốn hay kéo dãn. Điều này khiến cho điện trở của điện cực tăng vọt và còn có thể dẫn đến hiện tượng chập mạch trong các linh kiện điện tử. Đồng thời với sự khan hiếm của Indium khiến cho giá thành để chế tạo Luan van 4 điện cực ITO ngày càng đắt đỏ.
Vì vậy để phục vụ cho nhu cầu chế tạo điện cực dẻo, các nhà khoa học đang tập trung nghiên cứu về hai loại vật liệu rất tiềm năng để thay thế ITO đó là ống nano cacbon (CNT) và sợi nano bạc. Hai loại vật liệu này có cơ tính tốt đồng thời vẫn đảm bảo được độ truyền qua và tính dẫn điện [2]. Điện cực dẻo ống nano cacbon Điện cực dẻo ống nano cacbon (CNT) được chế tạo bằng cách phủ dung dịch thô CNT lên bề mặt PET, điện cực này đáp ứng được nhu cầu về cơ tính cũng như độ truyền qua mong muốn, liên kết mạng giữa CNT và bề mặt PET khá chắc chắn có thể chịu được tác động của siêu âm khi làm sạch, hay ngâm trong các dung môi khác nhau. Giá thành sản xuất thấp có thể tổng hợp được từ graphite với lượng lớn [3].
a) b) Độ truyền qua (% ) Bước sóng (nm) Hình 1. a) Độ truyền qua của điện cực dẻo ống nano cacbon và ITO với điện trở tương đương, b) Độ gồ ghề bề mặt của điện cực CNT. Tuy nhiên nhược điểm cố hữu của điện cực ống nano cacbon đó là tính dẫn điện. Để có độ truyền qua trên 85% tại bước sóng 550 nm điện trở của điện cực ống nano cacbon lên đến 200 ohm (Hình 1.
Đồng thời, được cấu tạo bởi các ống nano chồng chéo lên nhau vì vậy độ gồ ghề bề mặt cũng là một vấn đề của điện cực CNT. Luan van 5 Một nhược điểm nhữa của điện cực dẻo khi sử dụng vật liệu CNT đó là độ gồ ghề bề mặt do các ông nano cacbon xếp chồng lên nhau trên bề mặt PET (Hình 1. Điện cực dẻo sợi nano bạc Thường được chế tạo bằng phương pháp phủ quay dung dịch AgNW phân tán trong IPA lên bề mặt PET. Điện cực sợi nano bạc thu được có độ truyền qua và tính dẫn điện xấp xỉ so với điện cực ITO tiêu chuẩn (độ truyền qua trên 85% với điện trở tấm khoảng 20 ohm) kết quả này vượt xa điện cực CNT về tính dẫn điện [4].
a) b) Độ truyền qua (%) ∆R/R 0 Số lần uốn Bước sóng (nm) Hình 1. Độ bền cơ học của điện cực sợi nano bạc so với điện cực ITO và FTO (a). Độ truyền qua trong vùng quang phổ VIS-NIR (vùng ánh sáng khả kiến và cận hồng ngoại) của ITO, AZO, AgNW, CNT và PEDOT:PSS (b). Đặc biệt, điện cực sợi nano bạc còn thể hiện cơ tính tuyệt vời nhờ vào những đặc tính cơ bản của sợi kim loại.
Khi thử nghiệm độ bền của điện cực sợi nano bạc, một số nhóm nghiên cứu tiến hành uốn điện cực với đường cong bán kính 4 mm sau đó khảo sát và so sánh sự thay đổi điện trở của các điện cực với sợi nano bạc với điện cực ITO hay FTO. Kết quả cho thấy, điện cực AgNW có độ bền vượt trội hơn so với những điện cực còn lại (Hình 1. Ngoài ra điện cực sử dụng vật liệu AgNW trên đế PET còn độ trong suốt khá cao. Bên cạnh đó, đối với những vật liệu như ITO và FTO, giá trị độ truyền qua của điện cực sử hai loại vật liệu này bị giảm mạnh trong vùng bước sóng Luan van 6 hồng ngoại gần, trong khi đó giá trị độ truyền qua của điện cực AgNW vẫn cho thấy sự ổn định.
Do đó, điện cực AgNW có thể sử dụng thay thế cho điện cực ITO hay FTO trong những ứng dụng chế tạo linh kiện cho pin mặt trời khai thác ánh sáng trong vùng hồng ngoại (Hình 1. Một số ứng dụng của điện cực dẻo chế tạo trên đế PET. Pin mặt trời Điện cực nano bạc thường được sử dụng làm mặt trước trong pin mặt trời. Tùy vào mục đích sử dụng, ta có thể chế tạo điện cực sợi nano với độ mù dao động từ 1 đến 30%.
Điện cực có độ mù cao làm tăng hiệu suất quang điện cho pin, vì nó kéo dài đường đi của ánh sáng trong lớp hấp thụ. Một số nhóm nghiên cứu đã chế tạo thành công pin mặt trời với cực dương là điện cực sợi nano bạc (η=3,8%) có hiệu suất chuyển đổi năng lượng cao hơn 10% so với pin sử dụng điện cực ITO (η=3,4%) truyền thống [6]. Điện cực dẻo sợi nano bạc trên đế PET trong ứng dụng chế tạo pin mặt trời. a) trước hoạt động, b) điện cực hoạt động tốt bị uốn.
Hơn nữa, với cơ tính tuyệt vời, điện cực nano bạc trên đế PET rất phù hợp trong ứng dụng chế tạo pin mặt trời dẻo. Pin mặt trời dẻo sử dụng điện Luan van 7 cực bạc cho thấy một ưu điểm khả năng hoạt động tốt khi bị uốn với góc 120º (Hình 1. Thiết bị gia nhiệt trong suốt Thiết bị gia nhiệt trong suốt những năm gần đây được sử dụng rộng rãi trong ứng dụng làm cửa sổ máy bay. Nó giúp cho cửa sổ máy bay không bị đóng băng khi bay quá cao.
Hoạt động bằng cách chuyển đổi điện năng thành nhiệt năng, với 2 điện cực gắn với màn trong suốt dẫn điện (lớp gia nhiệt) (Hình 1. Với độ trong suốt và tính dẫn điện đã được chứng minh, điện cực sợi nano là một lựa chọn hoàn hảo cho ứng dụng này [7]. Lớp dẫn điện Điện cực Đế Hình 1. a) Hình ảnh thiết bị gia nhiệt trong suốt, b) Cấu tạo thiết bị gia nhiệt trong suốt.
Ứng dụng hiển thị (OLED) OLED ngày càng được sử dụng rộng rãi thay thế LCD trong những ứng dụng chế tạo màn hình hiển thị. OLED có tên gọi đầy đủ là Organic Light- Emiting Diode, tức là các điốt phát quang hữu cơ phát quang do LG phát triển. Trong khi cả LCD và Plasma đều cần đèn nền để hiển thị thì công nghệ OLED lại không cần dùng đến, vì các điểm ảnh của nó có thể tự phát sáng. Nhờ đó, tivi OLED sẽ mỏng hơn, nhẹ hơn, đồng thời tiết kiệm điện năng hơn, và cũng mang đến khả năng hiển thị tuyệt vời hơn bao giờ hết.
Công nghệ màn hình OLED cho góc nhìn siêu rộng, có thể đạt xấp xỉ lên đến 180 độ, Luan van 8 người xem có thể tận hưởng trọn vẹn chất lượng hình ảnh ngay cả khi không ngồi chính diện [8]. Trong những năm gần đây, màn hình cong đang được ưa chuộng sử dụng trên toàn thế giới. Do đó đòi hỏi phải có một Cathode (Hình 1.5) với độ trong suốt cao, tính dẫn điện tốt đồng thời có thể hoạt động khi bị uốn cong. Chính vì vậy với việc đáp ứng được hoàn toàn những yêu cầu trên, điện cực sợi nano bạc trên đế PET trở thành một lựa chọn rất hứa hẹn trong những ứng Cấu dụng về hiển thị trúc [9].
OLED Cực dương Lớp phát xạ Lớp truyền điện tích Cực Cuâm Đế Đế Hình 1. Cấu tạo OLED 1. Ứng dụng chế tạo thiết bị cảm ứng Công nghệ màn hình cảm ứng đã trở nên rất phổ biến trong nhiều sản phẩm điện tử. Nó được sử dụng rộng rãi cho điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy chơi game, thông tin điện tử và các công nghệ khác.
Thiết bị cảm ứng thường sử dụng cảm ứng điện dung (Hình 1. Vì trong ứng dụng này, đòi hỏi ánh sáng phát ra từ thiết bị phỉa đi qua điện cực phía trước, nên nó đòi hỏi điện cực phải có độ trong suốt cao với độ mù thấp. Trong những năm gần đây, nhiều màn hình (đặc biệt là điện thoại Luan van 9 thông minh) đang được yêu cầu phải có cấu trúc mềm dẻo có thể uốn. Hay đối với TV, công nghệ màn hình cong cũng đang trở nên được ưa chuộng và sử dụng rộng rãi.
Với những yêu cầu trên, sợi nano bạc cho thấy nó là một loại vật liệu đầy tiềm năng trong lĩnh vực này. Sợi nano bạc có khả năng cao sẽ thay thế cho loại vật liệu ITO trong các ứng dụng chế tạo thiết bị cảm biến do điện cực sử dụng sợi nano bạc có tuổi thọ cao hơn so với điện ITO truyền thống [10]. Cảm ứng điện dung Chất cách điện Màng trong suốt Đệm Đệm Điện cực trong suốt Hình 1. Cấu tạo cơ bản thiết bị cảm ứng điện dung.
CÁC VẬT LIỆU DÙNG TRONG CHẾ TẠO ĐIỆN CỰC DẺO 1. Tổng quan về sợi nano bạc Cấu trúc kim loại nano một chiều là các cấu trúc được chế tạo từ kim loại với hai chiều có kích thước trong khoảng 1-100 nm. Mặc dù không có một quy ước thống nhất chung, dựa trên tỉ lệ kích thước (chiều dài trên đường kính), cấu trúc 1 chiều nano có thể tạm phân loại như sau.