ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Những đóng góp mới của đề tài Chitosan là một vật liệu có khả năng hấp phụ tốt các kim loại nặng, bên cạnh đó, chitosan được sản xuất từ nguồn phế phẩm của các ngành chế biến thủy sản (cụ thể là tôm, cua). Có thể nói, chitosan là nguồn vật liệu mới thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, nhược điểm lớn của chitosan là dễ tan trong môi trường có pH thấp hơn 4 do chitosan có chứa nhóm – NH2 tự do.
Đây là tính chất làm giảm đi giá trị sử dụng của chitosan trong quá trình xử lý nước thải và còn ảnh hưởng đến khả năng tái tạo lại vật liệu. Để giải quyết vấn đề đó, việc điều chế chitosan biến tính bằng cách khâu mạch bởi các hóa chất như epichlorohydrins, ether ethylen glycol diglycidyl (EGDE), glutaraldehyde. nhằm loại bỏ gốc - NH2 tự do, nhằm tăng tính bền của chitosan trong môi trường axit. Tuy nhiên, khi đó khả năng hấp phụ kim loại nặng của chitosan bị giảm mạnh.
Để khắc phục vấn đề này, sau khi khâu mạch chitosan bằng glutaraldehyde, tiếp tục xử lý với axit citric nhằm tăng cường khả năng hấp phụ của chitosan biến tính đồng thời giữ được tính bền trong môi trường axit. Qua các thí nghiệm khảo sát để đánh giá khả năng ứng dụng vào thực tiễn xử lý nước thải của vật liệu chitosan biến tính và dễ dàng tái sử dụng vật liệu. 4 Luan van CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương II: Phương pháp và nội dung nghiên cứu 2. Phương pháp nghiên cứu 2.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Trên cơ sở các nguồn tài liệu từ sách, các nghiên cứu khoa học, tạp chí, bài báo cáo khoa học trong và ngoài nước, tiến hành chọn lọc, tổng hợp tài liệu về các kim loại nặng, vật liệu chitosan cũng như tình hình nghiên cứu các nội dung liên quan đến vấn đề xử lý kim loại nặng bằng phương pháp hấp phụ để có hướng nghiên cứu phù hợp. Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành các thí nghiệm khảo sát theo trình tự logic, đảm bảo đủ thời gian thực hiện và kết quả mang tính đại diện, khách quan, hạn chế sai số. Quá trình thực nghiệm tiến hành trong phòng thí nghiệm bằng kỹ thuật hấp phụ gián đoạn theo mẻ để có cái nhìn tổng quan và khả năng ứng dụng thực tế. Phương pháp toán học: Xử lý các số liệu thực nghiệm, tính toán các thông số cho quá trình hấp phụ.
Phương pháp đồ thị: Từ các số liệu tính toán, dữ liệu thực nghiệm, phương pháp đồ thị mang lại các nhìn toàn diện, dễ dàng phân tích nhận định về các kết quả đạt được. Từ đó, xác định hướng nghiên cứu hợp lý nhất. Phương pháp đo cadimi và kẽm Phương pháp cực phổ xác định nồng độ ion kim loại Cd2+ và Zn2+ theo phương pháp đường chuẩn. Máy cực phổ có nhiều phương pháp đo và nhiều chương trình đo khác nhau tùy thuộc vào từng kim loại đã được ghi trong sách hướng dẫn kèm theo máy.
Ở đây, người nghiên cứu sử dụng các chương trình sau: 5 Luan van CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VA Application Note No V – 83 ( Determination of Zn, Cd, Cu và Pb in drinking water after UV disgestion) cho việc xác định ion Zn2+. - Yêu cầu khi đo: Hóa chất là dung dịch đệm CHCOONH4 (pH = 4,6), nước cất. - Tiến hành: Ta cho vào ống đong 10 ml lần lượt như sau: 0,5 ml dung dịch đệm, V ml mẫu cần đo (nằm trong đường chuẩn đã lập), định mức bằng nước cất lên 10 ml. Cho hỗn hợp dung dịch vừa pha vào cốc thủy tinh của điện cực, bắt đầu cho chạy chương trình đo và đọc kết quả (ghi kết quả cường độ dòng điện tương ứng với nồng độ vừa đo).
VA Application Note No V – 86 ( Determination of Cd, Cu và Pb in waste water) cho việc xác định ion Cd2+. - Yêu cầu khi đo: Hóa chất là dung dịch đệm CHCOONH4 (pH = 4,6), dung dịch KCl 3M, nước cất. - Tiến hành: Ta cho vào ống đong 10 ml lần lượt như sau: 0,5 ml dung dịch đệm, 0,1 ml dung dịch KCl 3M, V ml mẫu cần đo (nằm trong đường chuẩn đã lập), định mức bằng nước cất lên 10 ml. Cho hỗn hợp dung dịch vừa pha vào cốc thủy tinh của điện cực, bắt đầu cho chạy chương trình đo và đọc kết quả (ghi kết quả cường độ dòng điện tương ứng với nồng độ vừa đo).
Chú ý: Trước khi sử dụng máy cực phổ để làm thí nghiệm phải được giáo viên quản lý hướng dẫn cách sử dụng, bảo quản và châm hóa chất vào các bộ phận của thiết bị để đảm bảo quá trình đo ổn định tránh xảy ra các sự cố. Cơ sở lý thuyết về phương pháp hấp phụ Lý thuyết hấp phụ Hấp phụ là sự tích lũy chất trên bề mặt phân cách các pha (khí – rắn, lỏng – rắn, khí – lỏng, lỏng – lỏng ). Chất có bề mặt, trên đó xảy ra sự hấp phụ được gọi là chất hấp phụ (adsorbate), chất được tích lũy trên bề mặt chất hấp phụ gọi là chất bị hấp phụ (adsorbent). 6 Luan van CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Bản thân các hiện tượng hấp phụ là sự tương tác giữa các phân tử chất hấp phụ và chất bị hấp phụ.
Tùy theo bản chất của lực tương tác mà người ta phân biệt hai loại hấp phụ là hấp phụ vật lý và hấp phụ hóa học. Hấp phụ vật lý Các phân tử chất bị hấp phụ liên kết với những tiểu phân ở bề mặt phân chia pha bởi lực liên kết Van Der Walls yếu. Đó là tổng hợp của nhiều loại lực hút khác nhau: lực tĩnh điện, lực tán xạ, lực định hướng. Lực liên kết này yếu nên dễ bị phá vỡ.
Trong hấp phụ vật lý, các phân tử của chất bị hấp phụ và chất hấp phụ không tạo thành hợp chất hóa học (không hình thành liên kết hóa học) mà chất bị hấp phụ chỉ bị ngưng tụ trên bề mặt phân chia pha và bị giữ lại trên bề mặt chất hấp phụ. Ở hấp phụ vật lý, nhiệt hấp phụ không lớn. Hấp phụ hóa học Hấp phụ hóa học xảy ra khi các phân tử chất hấp phụ tạo hợp chất hóa học với các phân tử chất bị hấp phụ. Lực hấp phụ hóa học là lực liên kết hóa học thông thường (liên kết ion, liên kết cộng hóa trị.) Lực liên kết này mạnh nên khó bị phá vỡ.
Nhiệt hấp phụ hóa học lớn, có thể đạt tới giá trị 800 kJ/mol. Trong thực tế, phân biệt giữa hấp phụ vật lý và hấp phụ hóa học chỉ là tương đối vì ranh giới giữa chúng không rõ rệt. Một số trường hợp tồn tại cả quá trình hấp phụ vật lý và hấp phụ hóa học. Ở vùng nhiệt độ thấp xảy ra quá trình hấp phụ vật lý, khi tăng nhiệt độ, khả năng hấp phu vật lý giảm và khả năng hấp phụ hóa học tăng lên.
Động học hấp phụ Trong môi trường nước, quá trình hấp phụ xảy ra chủ yếu trên bề mặt của chất hấp phụ. Vì vậy, quá trình động học hấp phụ xảy ra theo một loạt các giai đoạn kế tiếp nhau: - Các chất bị hấp phụ chuyển động đến bề mặt chất hấp phụ – giai đoạn khuếch tán trong dung dịch. 7 Luan van CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Phân tử chất bị hấp phụ chuyển động đến bề mặt ngoài của chất hấp phụ chứa các hệ mao quản – giai đoạn khuếch tán màng. - Chất bị hấp phụ khuếch tán vào bên trong hệ mao quản của chất hấp phụ – giai đoạn khuếch tán vào trong mao quản.
- Các phân tử chất bị hấp phụ được gắn vào bề mặt chất hấp phụ – giai đoạn hấp phụ thực sự. Động học hấp phụ là thông số quan trọng trong việc áp dụng các quá trình hấp phụ vào xử lý nước thải. Mô hình động học hấp phụ có thể dự đoán tốc độ tách loại chất ô nhiễm khỏi dung dịch nước. Bài nghiên cứu này trình bày hai mô hình hấp phụ thường được sử dụng nhất trong nghiên cứu động học hấp phụ kim loại: động học hấp phụ giả định bậc nhất (the pseudo – first order) và động học hấp phụ giả định bậc hai (the pseudo – second order).
Phương trình động học hấp phụ giả định bậc nhất Phương pháp động học giả định bậc nhất biểu diễn các yếu tố ảnh hưởng đến dung lượng hấp phụ của pha rắn, thường được biểu diễn dưới dạng: 𝑑𝑞𝑡 = 𝑘1 (𝑞𝑒 − 𝑞𝑡 ) 𝑑𝑡 Trong đó: 𝑞𝑒 : dung lượng hấp phụ tại thời điểm cân bằng (mg/g) 𝑞𝑡 : dung lượng hấp phụ tại thời điểm t (mg/g) 𝑘1 : hằng số tốc độ bậc nhất biểu kiến (L/giây) Lấy tích phân hai vế ( điều kiện biên t = 0 đến t = t, 𝑞𝑡 = 0 đến 𝑞𝑡 = 𝑞𝑡 ) phương trình trở thành: ln(𝑞𝑡 − 𝑞𝑒 ) = ln(𝑞𝑒 ) − 𝑘1. 𝑡 8 Luan van CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Nếu tốc độ hấp phụ tuân theo quy tắc động học bậc nhất biểu kiến, đường biểu diễn ln(𝑞𝑡 − 𝑞𝑒 ) theo t sẽ là đường thẳng, từ đó 𝑘1 và 𝑞𝑒 có thể được xác định từ độ dốc và giao điểm của đồ thị với trục tung. Phương trình động học giả định hấp phụ bậc hai Phương trình động học hấp phụ giả định bậc hai cũng biểu diễn các yếu tố ảnh hưởng đến dung lượng hấp phụ của pha rắn. Mô hình này phù hợp với giả thuyết cho rằng hấp phụ hóa học là bước kiểm soát tốc độ, được biểu diễn dưới dạng: 𝑑𝑞𝑡 = 𝑘2 (𝑞𝑒 − 𝑞𝑡 )2 𝑑𝑡 Trong đó: 𝑞𝑒 : dung lượng hấp phụ tại thời điểm cân bằng (mg/g) 𝑞𝑡 : dung lượng hấp phụ tại t (mg/g) 𝑘2 : hằng số tốc độ bậc hai biểu kiến (g/mg.giây) Với điều kiện biên t = 0 đến t = t, 𝑞𝑡 = 0 đến 𝑞𝑡 = 𝑞𝑡 , phương trình có dạng tích phân như sau: 1 1 = + 𝑘2 .giây) được xem là tốc độ hấp phụ ban đầu ( 𝑡 → 0) Vì vậy: ℎ = 𝑘2.
𝑞𝑒2 9 Luan van CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Phương trình được viết lại dưới dạng: 𝑡 1 𝑡 = + 𝑞𝑡 ℎ 𝑞𝑒 Nếu sự hấp phụ tuân theo quy luật động học giả định bậc hai biểu kiến, đồ thị biểu diễn quan hệ 𝑡⁄𝑞𝑡 theo t sẽ là đường thẳng. Từ đó, 𝑞𝑒 , 𝑘2 và h có thể được xác định từ độ dốc và giao điểm với trục tung của đồ thị. Các phương trình đẳng nhiệt hấp phụ Quá trình hấp phụ là quá trình thuận nghịch.