Đặt vấn đề Ngành trồng và kinh doanh hoa trong nước ngày càng không đáp ứng đủ nhu cầu. Là một nước có lợi thé nông nghiệp, Việt Nam có tiềm năng phát triển nghề trồng hoa, cây cảnh, nhưng trình độ khoa học công nghệ còn thấp, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún nên hiệu quả chưa tương xứng với tiềm năng. Do vậy, dé ngành sản xuất hoa, cây cảnh của Việt Nam phát triển bền vững và xuất khẩu ra thế giới, còn nhiều việc phải làm như đầu tư kỹ thuật, công nghệ, hình thành vùng sản xuất tập trung và nâng cao chất lượng các giống hoa (Phan Trần Đức Liên, 2021). Hiện nay, việc sử dụng cây cảnh dé trang tri trong nhà ngày càng được ưa chuộng đối với nhiều người tiêu dùng (Yerjanovich và Mamadiyoroglu, 2021).
Các cây cảnh có khả năng lọc không khí bằng cách hấp thụ những chất độc hại (benzene, formaldehyde, trichloroethylene, xylene và toluene), cũng như có thé loc được sóng điện từ phát ra từ wifi, tivi, máy tinh, laptop, đồ điện tử hay tia tử ngoại, hồng ngoại càng thu hút được lựa chọn của mọi người (Kapoor, 2017). Lan ý (Spathiphyllum wallisii) là loài cây mang trên mình một vẻ đẹp tao nhã với lá màu xanh bóng, hoa màu trắng hoặc xanh có hình dáng giống với một cánh buồm vươn lên cao. BC Wolverton và cộng tác viên vào năm 1989 đã tiến hành nghiên cứu cách làm sạch không khí trong trạm không gian NASA qua việc hấp thụ các chất gây ảnh hưởng xấu cho sức khỏe con người như cacbon oxit và các chất hại như benzene, fomandehyde, trichloroetylene, xylen và amoniac bằng các cây được trồng trong nhà, kết quả cho thấy cây lan ý là một trong hai loại cây cho khả năng lọc không khí tốt nhất so với những loại cây còn lại trong nghiên cứu này. Năm 2018, Iman Parseh và cộng tác viên đã nghiên cứu Spathiphyllum wallisii có khả năng hấp thụ được khí benzene, làm giảm nồng độ benzene trong không khí.
Cây lan ý có khả năng hấp thụ được các chất độc hại từ khói thuốc lá như cadmium (Cd), chrome (Cr), chi (Pb) (Ghoma và ctv, 2022). Ngoài ra lan ý còn là một loài cây mang trên mình nhiều ý nghĩa tốt đẹp về mặt phong thủy. Lan ý biểu tượng cho sự bình yên, nguồn năng lượng tích cực cho sức khỏe, tiền tải, su may mắn, sự đoàn kết, hạnh phúc, tình yêu, niềm vui và gắn bó giữa những người thân trong gia đình. Hiện nay cách nhân giống lan ý trên thị trường chủ yếu bằng phương pháp giâm cành, nuôi cấy đỉnh sinh trưởng.
Đối với phương pháp giâm cành truyền thống cho ra hệ số thấp, cây giống không đồng đều giữa các cây, còn đối với nuôi cấy đỉnh sinh trưởng, nguồn mẫu đầu vào được sử dụng rất lớn vì mỗi một cây thì chỉ cho ra được một đỉnh sinh trưởng. Để giải quyết được vấn đề này, nhân giống cây lan ý bằng phương pháp mới với mong muốn tao ra hệ số nhân chỗi cao hơn phương pháp truyền thống va phương pháp nuôi cấy đỉnh sinh trưởng đáp ứng được nhu cầu sử dụng lớn cho người tiêu dùng, đề tài “Tao chồi và nhân nhanh cụm chi từ lớp mỏng tế bào của thân cây lan ý (Spathiphyllum wallisii)’ đã được thực hiện. Mục tiêu của đề tài Tao choi và nhân nhanh cum choi từ lớp mỏng tê bào thân cây lan ý với hệ sô nhân chéi cao nhất, đồng thời tạo được cây lan ý hoàn chỉnh. Nội dung nghiên cứu Đề tai có 3 nội dung chính đó là, thí nghiệm đầu tiên, tiến hành khảo sát nồng độ chất điều hòa sinh trưởng BA đến quá trình tái sinh chdi trực tiếp từ mẫu thân cây lan ý.
Tiếp theo, bằng nguồn vật liệu được tạo ra ở thí nghiệm 1, tiến hành khảo sát ảnh hưởng của nồng độ BA lên quá trình nhân nhanh cụm chồi cây lan ý. Cuối cùng, đùng những chéi to, khỏe, sạch bệnh và tương đồng làm nguồn vật liệu để nghiên cứu ảnh hưởng của NAA đến quá trình tạo rễ với mong muôn tạo được cây lan ý hoàn chỉnh. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu về lan ý 2.
Phan loại Giới: Plantae Ngành: Angiospermae Lớp: Monocots Bộ: Alismatales Họ: Araceae Chi: Spathiphyllum Loài: Spathiphyllum wallisii 2. Nguồn gốc Lan ý được Regel mô tả khoa học lần đầu tiên vào năm 1877, có tên khoa học là Spathiphyllum wallisii, tên tiêng Anh là Peace lily, cùng với rất nhiều tên gọi khác nhau bằng tiếng Việt là huệ hòa bình, bạch môn, vỹ hoa trắng. Cây có nguồn gốc từ Panama, Columbia, Ecuador, Venezuela, quần đảo Mã lai, Costa Rica và Philippines (Chen và ctv, 2018). Ở Việt Nam, cây lan ý được trồng làm cảnh rộng rãi ở khu vực phía nam đặc biệt là được trồng và sản xuất nhiều nhất ở làng hoa Sa Đéc thuộc địa phận của tỉnh Đồng Tháp.
Đặc điểm hình thái Thân và lá: lan ý là một loại cây thân thảo mọc thành bụi. Lá có dạng hình bầu dục nhọn ở phần đầu, màu xanh đậm và bóng mọc theo hướng thắng đứng, gân lá to và lộ rõ, lá có chiều dài từ 40 đến 50 em (Hình 2.3), cuống lá dài dạng bẹ làm thành thân giả gắn ở gốc (Hình 2. Hoa: có màu vàng hoặc trắng dạng thuôn dài, xung quanh hoa được bao bọc bởi một chiếc lá bắc của hoa (mo hoa) có hình dạng giống như một cánh buồm hoặc một chiếc vỏ sò (Hình 2.4), có màu trắng hoặc xanh. Cây cho hoa khi trồng từ 1 năm rưỡi đến 2 năm (Trương Lỗ Quy, 2014).
Khi hoa nở có thé kéo dai từ 3 đến 4 tháng mới tàn. Cuống lá cây lan ý. Mặt trước Hình 2. Điều kiện sinh thái Lan ý phát triển mạnh ở nơi có điều kiện 4m ướt, rừng mưa nhiệt đới (Chen và ctv, 2018).
Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt là 20 - 25°C. Cây có thé trồng trong chậu nhỏ hoặc trồng trực tiếp trên mặt đất, muốn lan ý sinh trưởng tốt phải cung cấp đầy đủ nước cho cây, cần bón phân từ 2 đến 3 tháng một lần, nên thường xuyên cắt tia bỏ bớt lá già và lá úa để cây cho ra hoa nhiều và đẹp. Theo Rugayah và cộng tác viên (2022), bón phân N, P, K theo tỉ lệ 1:1:2 cho cây sẽ làm thời gian ra hoa ngắn hơn và cho ra nhiều hoa hơn so với khi không bón phân. Giới thiệu về nuôi cấy mô tế bào thực vật 2.
Khái niệm và phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật Nuôi cay mô tế bao thực vật là một phạm trù chung cho tất cả các loại nuôi cay mà nguyên liệu là các thực vật hoàn toàn sạch bệnh trên môi trường nhân tạo va trong điều kiện vô trùng (Haberlandt, 1902). Nhân giống hay nuôi cấy mô đều là thuật ngữ mô tả các phương thức nuôi cấy các bộ phận thực vật trong ống nghiệm có chứa môi trường vô trùng, môi trường có chứa các chất dinh dưỡng thích hợp như muối khoáng, vitamin, các hormone tăng trưởng và đường. Kỹ thuật nuôi cấy mô cho phép tái sinh chỗi hoặc cơ quan (sự phát sinh cơ quan) từ các mô như: lá, thân, hoa hoặc rễ (Dương Công Kiên, 2002). Nuôi cấy mô, tế bào thực vật là phạm trù khái niệm chung cho tất cả các loại nuôi cấy nguyên liệu thực vật hoàn toàn sạch các vi sinh vật, trên môi trường dinh dưỡng nhân tạo, trong điều kiện vô trùng.
Nuôi cay mô, tế bao thực vật còn gọi là nuôi cấy thực vật (trong ống nghiệm) dé phân biệt với các quá trình nuôi cấy cây trong điều kiện tự nhiên ngoài ống nghiệm (Ngô Xuân Bình, 2010). Phương pháp nuôi cay mô tế bào thực vật bao gồm: nuôi cấy đỉnh sinh trưởng, nuôi cây mô sẹo, nuôi cấy tế bào đơn, nuôi cấy protoplast - chuyên gen (Dương Công Kiên, 2002). Các giai đoạn của quá trình vi nhân giống Quá trình nhân giống được chia thành các giai đoạn như sau: giai đoạn 1: chuẩn bị cây mẹ. Cây mẹ cần phải sạch bệnh và đang ở giai đoạn tăng trưởng mạnh nhất thì khi nhân giống sẽ đạt hiệu quả cao.
Giai đoạn 2: khử trùng mẫu cấy. Một phần thích hợp của thực vật được khử trùng và chuyền vào môi trường nuôi cấy trong điều kiện vô trùng. Giai đoạn 3: giai đoạn tăng sinh. Mục tiêu của giai đoạn này là tăng nhanh số lượng cá thể bằng sự sinh phôi soma, tăng số lượng chổi bên, tạo chéi bat định.
Giai đoạn 4: ra rễ. Những chdi đạt chiều cao thích hợp sẽ được chuyền sang môi trường kích thích ra rễ. Giai đoạn 5: giai đoạn ra rễ in vivo. Với những cây không ra rễ in vitro thì sé được chuyên ra vườn ươm dé ra rễ và phát triển thành cây hoàn chỉnh (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002).
Ý nghĩa của nuôi cấy mô tế bào thực vật Nuôi cấy mô có khả năng sản xuất chuẩn xác lượng cây giống chất lượng cao, tạo được số lượng lớn cây giống với kích thước bằng nhau, đồng nhất về mặt di truyền và mang những tính trạng vượt trội (khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, chống sâu bệnh cao, rút ngắn thời lượng hoàn thiện của cây, năng suất cao). Ngoai ra, nuôi cay mô có thể tái sinh cây hoàn chỉnh từ những tế bào thực vật được biến đổi gen. Do cây được nuôi trong điều kiện vô trùng nên có thể ngăn chặn tối đa khả năng phát tán bệnh, sâu bệnh hay những nhân tổ gây bệnh khi vận chuyển. Các cây con nuôi cấy mô có kích thước nhỏ nên dé dang trong việc vận chuyên.
Ngoài ra, vi nhân giống còn có thé tiết kiệm được không gian vì thực hiện hoàn toàn trong phòng thí nghiệm và sản xuất điễn ra trong bắt cứ thời gian nào do không phụ thuộc vào ảnh hưởng của thời tiết bên ngoài. Môi trường nuôi cấy 2. Thành phần của môi trường Môi trường MS được coi như là một môi trường cơ bản, được sử dụng phổ biến trong nuôi cay mô tế bào thực vật, tên viết tắt của môi trường Murashige va Skoog, được phat minh bởi nhà khoa học thực vật Toshio Murashige va Skoog Folke K. vào năm 1962 khi Murashige đang tìm kiếm một loại hormone mới.
Thành phần môi trường MS (Murashige và Skoog, 1962) Hóa chất Nồng độ (mg/]) KNO3 1900 NHuNO¿ 1650 Đa lượng MgS0O4.2H20 440 KH2PO, 170 CoCl2.5H20 0,025 H3BO3 6,2 Vi luong KI 0,83 MnS0O.7HạO 8,6 Na2EDTA.2H20 S73 Fe- EDTA FeSO4.7H20 27,8 Glycine 2,00 Myo-Inositol 10 Vitamine Nicotinic acid 0,50 Pyridoxine HCI 0,50 Thiamine - HCl 0,10 2. Các chất điều hòa sinh trưởng 2. Auxin Auxin can thiệp vào nhiều hiện tượng sinh lý, hoạt động của nó tùy thuộc vào nồng độ và các sự hỗ trợ tương quan qua lại của chúng với các chất điều hòa khác.