Chương 1: Cơ sở lý luận về nghiên cứu tầng lớp trung lưu ở Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 2: Đặc điểm kinh tế, xã hội của các nhóm trung lưu ở Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Đặc điểm văn hóa - lối sống của các nhóm trung lưu ở Thành phố Hồ Chí Minh. 9 PHẦN 2: NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU TẦNG LỚP TRUNG LƢU Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu về tầng lớp trung lƣu 1. Nghiên cứu về lý thuyết phân tầng xã hội với ý nghĩa nhận diện các đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của các nhóm trung lƣu Về mặt lịch sử, tồn tại một số hệ thống phân tầng cơ bản trong xã hội loài người: chế độ nô lệ, hệ thống đẳng cấp Ấn Độ (caste), đẳng cấp theo kiểu chế độ phong kiến châu Âu (estate) và giai cấp. Trong khi ba hệ thống đầu phụ thuộc vào những bất bình đẳng mang tính chất pháp lý hoặc tôn giáo, thì sự phân chia giai cấp bắt nguồn từ các nhân tố kinh tế có tác động đến hoàn cảnh vật chất trong cuộc sống con người (Stark, 2004). Hoặc là một nhóm lớn gồm nhiều người cùng có những nguồn lực kinh tế chung, và các nguồn lực này ảnh hưởng mạnh mẽ đến lối sống của họ.
Sự sở hữu tài sản, cùng với nghề nghiệp là cơ sở chính cho khác biệt giai cấp (Giddens, 2001). Lý thuyết phân tầng xã hội có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu tầng lớp trung lưu, lý thuyết giúp tác giả hiểu được quy luật hình thành, vận động và phát triển của tầng lớp trung lưu. Ba nhà khoa học Karl Marx, Emile Durkheim và Max Weber là những người đầu tiên nghiên cứu về lý thuyết phân tầng xã hội. Marx và Engels coi toàn bộ lịch sử nhân loại bao gồm nhiều thời kỳ, mỗi thời kỳ có một cặp giai cấp xã hội được xác định theo quan hệ của họ với tư liệu sản xuất và quan hệ giữa họ với nhau.
Hai ông cho rằng, sự giàu có, quyền lực, vị thế của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội có nguồn gốc từ việc sở hữu tư liệu sản xuất của xã hội. Chính những cơ sở kinh tế đã quyết định đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp và xung đột giai cấp. Khác với quan điểm của Marx và Engels, Durkheim trong tác phẩm “The Division of labor in society” (Phân công lao động xã hội) (1893) đã xem nhẹ vai trò của quyền lực xã hội trong mối quan hệ với kinh tế và chuẩn mực đạo đức xã hội. Ông cho rằng, nguyên nhân của bất bình đẳng xã hội bắt nguồn từ vị thế xã hội, chuẩn mực xã hội.
Chính sự khác nhau về vị thế xã hội dẫn đến sự khác biệt trong thu nhập và sự giàu có giữa các nhóm xã hội. 10 Không giống như Karl Marx, Max Weber lập luận rằng, quan hệ tài sản kinh tế (quyền sở hữu đất đai, nhà máy, của cải,…) không được chấp nhận như một yếu tố quan trọng quyết định vị trí xã hội mà nó chỉ là một trong những yếu tố hình thành sự phân tầng xã hội. Theo ông, sự bất bình đẳng về năng lực thị trường quyết định vị trí mà mọi người chiếm giữ trong hệ thống phân cấp xã hội. Khi mọi người có năng lực thị trường tốt, họ sẽ có cơ hội sống rất tốt: cơ hội bao gồm các khoản thu nhập và lương hưu cùng với các lợi ích ít hữu hình hơn như bảo đảm công việc, điều kiện làm việc dễ chịu và tự chủ đáng kể trong công việc.
Các nhóm khác nhau với năng lực thị trường nghề nghiệp khác nhau có thể được coi là các tầng lớp xã hội khác nhau. Weber đưa ra cách tiếp cận ba chiều cạnh đối với phân tầng xã hội đó chính là địa vị kinh tế, địa vị xã hội và địa vị quyền lực. Tài sản, quyền lực, vị thế xã hội có thể độc lập với nhau, nhưng thực tế chúng có quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau. Quan điểm đa chiều của Weber về phân tầng xã hội trở thành quan điểm được các nhà xã hội học thế kỷ XX quan tâm nghiên cứu.
Vào cuối thế kỷ XX, nhiều nhà lý thuyết bắt đầu kết hợp những hiểu biết của Marx và Weber để có những giải thích thực tế hơn về sự phân tầng xã hội. Ấn tượng nhất trong những nỗ lực này là công việc thực nghiệm của Erik O. Dựa theo ý tưởng của Marx rằng giai cấp phải được xác định liên quan đến hệ thống sản xuất trong xã hội (nghĩa là liên quan đến phương tiện sản xuất), chứ không chỉ đơn giản là mức độ tình trạng nghề nghiệp, như các nhà chức năng đề xuất. Wright đã phát triển mô hình bốn nhóm: nhà tư bản, nhà quản lý, công nhân và tiểu tư sản.
Nhà tư bản sở hữu tư liệu sản xuất (nhà máy và ngân hàng), mua sức lao động của người khác và kiểm soát lao động của người khác. Các nhà quản lý chỉ đơn thuần kiểm soát lao động của người khác cho các nhà tư bản và bán sức lao động của họ cho các nhà tư bản (chẳng hạn như các nhà quản lý của các tập đoàn). Công nhân chỉ có sức lao động của họ để bán cho các nhà tư bản, trong khi tiểu tư sản sở hữu một số phương tiện sản xuất nhỏ nhưng sử dụng rất ít hoặc không có công nhân. Thông qua việc phân chia xã hội thành bốn tầng lớp, các nghiên cứu này đã giải thích được sự khác biệt về tài sản, phương tiện sản xuất dẫn đến sự khác biệt về giáo dục, chăm sóc sức khỏe, quyền lực và vị trí xã hội.
Trong những năm gần đây, Harold Kerbo trong tác phẩm “Social Stratification” (2006) đã tổng hợp các quan điểm phân tầng của nhiều 11 nhà khoa học tiền bối và nêu lên định nghĩa phân tầng xã hội. Theo ông, phân tầng xã hội được hiểu một cách ngắn gọn là sự phân phối bất bình đẳng có hệ thống về quyền lực, tài sản và vị thế trong xã hội. Khác với nhiều nhà khoa học trước đó, Harold Kerbo quan tâm nhiều đến sự phân tầng xã hội của các nước đang phát triển. Ông cho rằng, có sự khác biệt rất lớn giữa các tầng lớp ở những nước phát triển và những nước đang phát triển.
Bên cạnh các nhà xã hội học Mỹ, Pierre Bourdieu cũng được xem là một trong những nhà xã hội học lớn của nền xã hội học của Pháp. Bourdieu đã được mô tả là "nhà xã hội học Pháp và chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ Durkheim đồng thời là một lý thuyết gia hàng đầu và một nhà nghiên cứu đầy kinh nghiệm với mối quan tâm rộng lớn phi thường và phong cách riêng biệt" (Calhoun 2000, tr696). Giống như Durkheim, Bourdieu nhấn mạnh đến bản chất xã hội trọn vẹn của đời sống xã hội và cách thức mà một trật tự xã hội nhất định được duy trì. Nhưng không giống như Durkheim, Bourdieu lấy sự bất bình đẳng xã hội là trọng tâm chính.
Cụ thể, ông nhấn mạnh cơ cấu khách quan của tầng lớp xã hội và quan hệ giai cấp là điều kiện quy định văn hóa hàng ngày và sự tương tác xã hội của một cá nhân như thế nào. Cách tiếp cận của ông đến khái niệm bất bình đẳng và phân tầng cho thấy ông chịu ảnh hưởng của Marx, nhưng đặc biệt là của Weber. Giống như Weber, ông cho rằng, sự bất bình đẳng không chỉ có nguồn gốc từ sự khác biệt về tư liệu sản xuất mà do nhiều khía cạnh khác. Bourdieu xác định sự bất bình đẳng xuất phát từ sự khác biệt giữa các cá nhân và giai cấp về vốn kinh tế, vốn xã hội và vốn văn hóa, trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò vốn xã hội.
Theo Bourdieu, vốn xã hội bao gồm các kết nối xã hội của cá nhân, các mạng lưới xã hội và quan hệ thân tộc,… Ông cho rằng, khi đo lường vốn xã hội, số lượng không phụ thuộc nhiều vào số người bạn biết mà phụ thuộc vào vị thế xã hội của những người bạn của bạn (nghĩa là số lượng về vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn xã hội của những người bạn đó và họ có sẵn lòng sử dụng chúng để giúp bạn hay không). Các phƣơng pháp tiếp cận và phân loại tầng lớp trung lƣu của các nhà nghiên cứu trong nƣớc và trên thế giới Thuật ngữ “tầng lớp trung lưu” đã được nhà triết học cổ đại Aristotle (384 - 322 TCN) nhắc đến thông qua tác phẩm “The Politics” (350TCN). Theo ông, tầng 12 lớp trung lưu là những người thuộc nhóm trung bình (trung bình giữa giàu có và nghèo khổ) (Dẫn lại Lê Kim Sa, 2015). Tầng lớp trung lưu là một khái niệm phức tạp, các nghiên cứu về trung lưu với cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra các khái niệm khác nhau.
Khi nhắc đến khái niệm tầng lớp trung lưu, nhiều học giả đã quan tâm đến quan điểm của Marx & Engels. Trong bản “Tuyên ngôn của đảng cộng sản” (1872) Marx & Engels định nghĩa, tầng lớp trung lưu (trung đẳng) là những nhà tiểu công nghiệp, tiểu thương, thợ thủ công và nông dân. Trong giai đoạn lịch sử này, tất cả tầng lớp trung lưu (trung đẳng) đều đấu tranh chống lại giai cấp tư sản để cứu lấy sự sống còn của chính mình. Tác giả cho rằng, tầng lớp trung lưu tìm cách làm cho bánh xe lịch sử quay ngược trở lại, thái độ cách mạng của tầng lớp này chỉ trong chừng mực.
Wright Mills (1953) đã mô tả tầng lớp trung lưu cũ và tầng lớp trung lưu mới. Tầng lớp trung lưu cũ là những người kinh doanh nhỏ, chủ hiệu, gia đình nông dân, và những nhà chuyên môn tự tạo việc làm. Tầng lớp trung lưu mới của Hoa Kỳ là những người quản lý, điều hành công việc; các chuyên gia có hưởng lương; người bán hàng và những nhân viên văn phòng. Tác giả cho rằng, trong toàn bộ lịch sử Hoa Kỳ, nông dân là tầng lớp trung lưu độc lập.
Đặc điểm của tầng lớp trung lưu cũ ở Hoa Kỳ là hoàn toàn tự do, là chủ nhân của chính họ; quy mô kinh doanh nhỏ và có tài sản riêng như nhà cửa, đất đai, công cụ để phục vụ cho sinh kế của chính mình. Từ năm 1870-1940, điều kiện kinh tế của Hoa Kỳ thay đổi, tầng lớp trung lưu mới tăng từ 15%-56%, trong khi tầng lớp trung lưu cũ đã giảm từ 85% xuống 44% (Wright Mills, 1953).