Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh xã hội phát triển theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, áp lực công việc, căng thẳng tâm lý kéo dài cùng thói quen sinh hoạt và dinh dưỡng không điều độ đã làm gia tăng tỷ lệ mắc hội chứng suy nhược cơ thể và bệnh lý loét dạ dày tá tràng.

Hội chứng suy nhược cơ thể đặc trưng bởi tình trạng mệt mỏi kéo dài trên sáu tháng, không thuyên giảm khi nghỉ ngơi và có xu hướng trầm trọng hơn sau các hoạt động thể lực hoặc sang chấn tâm lý. Hiện nay, y học hiện đại chủ yếu áp dụng các biện pháp điều trị triệu chứng bằng thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc ức chế chọn lọc thu hồi serotonin hoặc các hợp chất bổ sung vi chất, vốn tiềm ẩn nhiều tác dụng không mong muốn khi sử dụng dài ngày. Song song đó, bệnh lý loét dạ dày tá tràng với tỷ lệ mắc hàng năm từ 0,1% đến 0,3% trên thế giới (tăng gấp 6 đến 10 lần ở người nhiễm Helicobacter pylori) cũng là nguyên nhân gây suy giảm chất lượng sống và tiềm ẩn các biến chứng nghiêm trọng như xuất huyết tiêu hóa, hẹp môn vị và ung thư hóa. Các nhóm thuốc tân dược điều trị loét dạ dày như thuốc ức chế bơm proton (PPI), thuốc kháng thụ thể H2 hay kháng sinh diệt H. pylori tuy mang lại hiệu quả cao nhưng việc dùng kéo dài có thể gây ra nhiều phản ứng bất lợi. Do đó, xu hướng tìm kiếm và phát triển các hoạt chất sinh học tự nhiên từ nguồn dược liệu bản địa có độ an toàn cao, ít tác dụng phụ đang được chú trọng.

Sâm báo (Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr, họ Bông - Malvaceae) là loài dược liệu quý mọc hoang và được di thực trồng tại vùng núi Báo (huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Trong y học dân gian, rễ củ Sâm báo từ lâu đã được sử dụng làm thuốc bổ chữa cơ thể suy nhược, kém ăn, gầy yếu và đau dạ dày. Nhằm xây dựng luận cứ khoa học để phát triển các dạng bào chế thực phẩm bảo vệ sức khỏe đặc trưng của địa phương, đề tài khóa luận tốt nghiệp dược sĩ "Nghiên cứu tác dụng tăng lực, chống loét dạ dày và độc tính trên thực nghiệm của cao Sâm báo (Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr)" được thực hiện tại Bộ môn Dược lực - Trường Đại học Dược Hà Nội.

Đề tài xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu tác dụng tăng cường thể lực của cao Sâm báo trên mô hình động vật thực nghiệm.
  2. Nghiên cứu tác dụng chống loét dạ dày của cao Sâm báo trên mô hình thắt môn vị.
  3. Nghiên cứu độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của cao Sâm báo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Mẫu nghiên cứu: Cao khô chiết xuất từ rễ củ cây Sâm báo (Abelmoschus sagittifolius) thu hái tại núi Báo, xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa vào tháng 10/2020.
  • Động vật thực nghiệm: Chuột nhắt trắng chủng Swiss (giống cái, cân nặng 18–22 g) và chuột cống trắng chủng Wistar (cả hai giống, cân nặng 150–170 g).
  • Phạm vi không gian và thời gian: Thực nghiệm được tiến hành tại Bộ môn Dược lực, Trường Đại học Dược Hà Nội; đánh giá mô bệnh học vi thể phối hợp tại Bộ môn Giải phẫu bệnh, Trường Đại học Y Hà Nội. Khóa luận được hoàn thành và bảo vệ vào tháng 06/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và mô hình sinh bệnh học

Khóa luận dựa trên các cơ sở lý thuyết dược lý và sinh bệnh học chuẩn mực:

  • Lý thuyết về suy nhược cơ thể: Dựa trên mô hình tương tác "ba trụ cột" gồm hệ miễn dịch, hệ thần kinh và mạng lưới nội tiết thần kinh (đặc biệt là trục dưới đồi - tuyến yên - thượng thận HPA). Tác dụng tăng lực được khảo cứu thông qua mô hình trụ quay Rotarod do Dunham và Miya (1956) đề xuất.
  • Cơ chế bệnh sinh loét dạ dày tá tràng: Dựa trên thuyết mất cân bằng giữa hệ thống yếu tố bảo vệ (lớp chất nhầy mucin, ion bicarbonate, tế bào biểu mô niêm mạc, hệ thống vi tuần hoàn và prostaglandin nội sinh) và yếu tố tấn công (acid chlohydric, pepsin, vi khuẩn H. pylori, thuốc chống viêm không steroid NSAIDs, corticoid, rượu và stress). Mô hình thắt môn vị (mô hình Shay et al., 1945) được sử dụng để đánh giá tình trạng tăng tiết và ứ đọng acid dịch vị.
  • Khung đánh giá độc tính học: Áp dụng Hướng dẫn thử nghiệm tiền lâm sàng của Bộ Y tế phối hợp với hướng dẫn quốc tế của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), bao gồm OECD TG-420 (độc tính cấp đường uống) và OECD TG-407 (độc tính bán trường diễn liều lặp lại 28 ngày).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

                             CAO KHÔ SÂM BÁO
                 (Chiết nước nóng + chiết cồn 50°C, H = 27-28%)
 [TÁC DỤNG TĂNG LỰC]       [TÁC DỤNG CHỐNG LOÉT]       [ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH]
(Chuột nhắt Swiss,          (Chuột cống Wistar,    Độc tính cấp    Độc tính bán trường diễn
   uống 14 ngày)               uống 5 ngày)        (OECD TG-420,     (OECD TG-407, 28 ngày,
                                                    chuột nhắt)        chuột cống Wistar)
  1. Quy trình chiết xuất mẫu thử: Dược liệu rễ củ sấy khô được chiết bằng nước nóng 2 lần (tỷ lệ 1:10), phần bã tiếp tục chiết cồn 50°C 2 lần (tỷ lệ 1:10). Gộp các dịch chiết, chưng cất thu hồi dung môi và sấy dưới áp suất giảm thu được cao khô với độ ẩm < 5% và hiệu suất chiết đạt 27–28%.
  2. Thiết kế liều thử: Thử nghiệm trên 2 mức liều:
    • Liều 1 (SB1): 1,35 g cao/kg cân nặng (tương đương 5 g dược liệu khô/kg).
    • Liều 2 (SB2): 2,7 g cao/kg cân nặng (tương đương 10 g dược liệu khô/kg).
  3. Thực nghiệm tác dụng tăng cường thể lực: Thực hiện trên chuột nhắt trắng Swiss (cái, 18–22 g) trên thiết bị Rotarod 7650 với tốc độ 24 vòng/phút. Đo thời gian bám trên trụ tại các thời điểm T0 (trước uống thuốc), T1 (sau uống 60 phút ở ngày 1), T7 (ngày thứ 7) và T14 (ngày thứ 14). Lô đối chứng dương sử dụng Sulbutiamin liều 100 mg/kg.
  4. Thực nghiệm tác dụng chống loét dạ dày: Chuột cống trắng Wistar được cho uống thuốc liên tục 5 ngày, nhịn ăn 24 giờ trước phẫu thuật thắt môn vị. Sau 6 giờ thắt, thu hồi dịch vị để đo thể tích, xác định pH, chuẩn độ xác định độ acid toàn phần bằng dung dịch NaOH 0,01N; đồng thời mở dạ dày quan sát niêm mạc, chấm điểm loét và tính chỉ số loét. Lô đối chứng dương sử dụng Cimetidin liều 100 mg/kg.
  5. Thực nghiệm độc tính cấp: Đánh giá trên chuột nhắt trắng Swiss cái theo OECD TG-420 qua hai giai đoạn thăm dò và chính thức (uống các mức liều 5,4 g/kg và 8,1 g/kg chia làm nhiều lần trong 24 giờ), theo dõi triệu chứng trong 72 giờ và tỷ lệ sống sót trong 14 ngày để xác định $LD_{50}$.
  6. Thực nghiệm độc tính bán trường diễn: Chuột cống Wistar cả hai giống uống cao Sâm báo hàng ngày trong 28 ngày liên tục. Đánh giá tình trạng chung, biến thiên khối lượng hàng tuần; xét nghiệm các chỉ số huyết học (WBC, LYM, RBC, HGB, HCT, MCV, PLT trên máy URIT 3000 PLUS); xét nghiệm sinh hóa huyết thanh (AST, ALT, Glucose, Cholesterol, Protein, Creatinin trên máy TC 3300 PLUS); tính tỷ lệ khối lượng các tạng (tim, gan, thận, phổi, lách, thượng thận) và làm tiêu bản mô bệnh học vi thể nhuộm HE gan, thận.
  7. Phương pháp xử lý số liệu: Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0. Các biến phân phối chuẩn biểu diễn dưới dạng $Mean \pm SE$ và so sánh bằng ANOVA kèm hậu kiểm LSD; các biến không phân phối chuẩn biểu diễn dạng $Median (Min - Max)$ và so sánh bằng kiểm định Kruskal-Wallis và Mann-Whitney U. Ngưỡng ý nghĩa thống kê được xác lập tại $p < 0,05$.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

Chương này trình bày cơ sở lý luận và tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:

  • Tổng quan về suy nhược cơ thể: Phân tích định nghĩa, dịch tễ học (tỷ lệ nữ:nam là 3:1, độ tuổi phổ biến 20–45 tuổi), các yếu tố nguy cơ (nhiễm virus Epstein-Barr, di truyền, suy giảm miễn dịch, bất thường trục HPA) và các nhóm thuốc điều trị hiện hành (chống trầm cảm, SSRIs, sulbutiamin, vitamin nhóm B). Khái quát các dược liệu tăng lực truyền thống có tên "Sâm" như Sâm cau, Nhân sâm, Đảng sâm, Sâm Việt Nam cùng các mô hình thực nghiệm đánh giá thể lực (chuột bơi Brekhman, trụ quay Rotarod).
  • Tổng quan về loét dạ dày tá tràng: Phân tích cơ chế bệnh sinh dựa trên tương quan yếu tố bảo vệ (mucin, bicarbonate, biểu mô, tưới máu vi mạch, prostaglandin) và yếu tố tấn công ($H^+$, pepsin, H. pylori, NSAIDs). Tổng hợp các nhóm thuốc tân dược điều trị (antacid, kháng $H_2$, PPI, sucralfat, dẫn xuất PG, bismuth, kháng sinh) và các dược liệu trị dạ dày như Cam thảo, Chè dây, Nghệ, Bạch truật, Lá khôi. Trình bày chi tiết các mô hình gây loét thực nghiệm bằng phương pháp vật lý (thắt môn vị Shay, ngâm nước lạnh, thiếu máu - tái tưới máu) và hóa học (indomethacin, ethanol, acid acetic).
  • Tổng quan về cây Sâm báo: Mô tả đặc điểm thực vật của Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr, phân bố tại Việt Nam (đặc biệt tại Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình), bộ phận dùng (rễ củ thu hoạch tháng 11–12 hoặc 1–2), phương pháp chế biến và thành phần hóa học (chất nhầy chiếm 35–40%, tinh bột, acid béo, phytosterol, coumarin, sesquiterpen như ventricosin A, tagitinin A). Tổng thuật các nghiên cứu dược lý trước đó chứng minh tác dụng an thần, bảo vệ niêm mạc, ức chế H. pylori và hồi phục vết loét của dịch chiết Sâm báo.

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 mô tả chi tiết nguồn gốc nguyên liệu, trang thiết bị và quy trình thao tác thực nghiệm:

  • Mẫu nghiên cứu: Rễ củ Sâm báo thu hái tại núi Báo, Thanh Hóa (tháng 10/2020), chế biến thành cao khô bằng phương pháp chiết kết hợp nước nóng và cồn 50°C.
  • Động vật và hóa chất: Chuột nhắt Swiss (Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương) và chuột cống Wistar (Học viện Quân y). Hóa chất đối chứng gồm Sulbutiamin 200 mg và Cimetidin 200 mg; bộ kit sinh hóa của ERBA Diagnostics và kit huyết học URIT.
  • Quy trình thực nghiệm: Chi tiết hóa quy trình thí nghiệm tăng lực trên mô hình Rotarod (14 ngày), mô hình chống loét thắt môn vị Shay (5 ngày uống, 6 giờ thắt), thử độc tính cấp đường uống theo OECD TG-420 và thử độc tính bán trường diễn lặp lại 28 ngày theo OECD TG-407.
  • Công thức và tiêu chí đánh giá: Trình bày chi tiết các công thức tính thể tích dịch vị ($V$), độ acid toàn phần, thang điểm loét (0 đến 3 điểm), chỉ số loét ($UI$), phần trăm ức chế loét ($X%$), tỷ lệ khối lượng cơ quan so với cơ thể và các thuật toán thống kê trên SPSS 20.0.

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 3 công bố đầy đủ các số liệu định lượng thu được từ các chuỗi thực nghiệm:

  • Tác dụng tăng cường thể lực: Sau 14 ngày uống thuốc, cao Sâm báo liều 2,7 g/kg làm tăng thời gian bám trên trụ quay Rotarod lên $267\text{ giây}$ (khoảng 31–1800 giây), tăng 153,3% so với lô chứng ($59\text{ giây}$, $p = 0,028$), tương đương hiệu quả của Sulbutiamin 100 mg/kg ($250\text{ giây}$, tăng 130,6%, $p = 0,023$). Liều 1,35 g/kg chưa tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($77\text{ giây}$, $p > 0,05$). Khối lượng cơ thể chuột ở các lô tăng trưởng đồng đều, không có sự sai khác giữa các lô ($p > 0,05$).
  • Tác dụng chống loét dạ dày trên mô hình Shay:
    • Về dịch vị: Cả hai mức liều cao Sâm báo (1,35 g/kg và 2,7 g/kg) cũng như Cimetidin 100 mg/kg không làm thay đổi có ý nghĩa thống kê về pH dịch vị, thể tích dịch vị và độ acid toàn phần so với lô chứng bệnh ($p > 0,05$).
    • Về tổn thương loét: Cao Sâm báo ở cả 2 mức liều 1,35 g/kg và 2,7 g/kg đều làm giảm điểm loét có ý nghĩa thống kê xuống mức trung vị là 1 điểm so với lô chứng bệnh là 2 điểm ($p = 0,01$). Phần trăm ức chế loét của cao Sâm báo liều 1,35 g/kg đạt 10,8% và liều 2,7 g/kg đạt 7,6% (lô đối chứng Cimetidin đạt 49,4%).
  • Kết quả nghiên cứu độc tính:
    • Độc tính cấp: Trong thử nghiệm thăm dò và chính thức, mức liều tối đa cho uống là 8,1 g cao/kg (tương đương 30 g dược liệu/kg) không gây chết bất kỳ cá thể chuột nào trong 72 giờ và suốt 14 ngày theo dõi; không làm xuất hiện triệu chứng bất thường, do đó chưa xác định được giá trị $LD_{50}$ đường uống.
    • Độc tính bán trường diễn 28 ngày: Chuột cống tăng trưởng thể trọng bình thường qua các tuần T0 đến T4. Không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê về các chỉ số huyết học chủ yếu (WBC, LYM, RBC, HGB, HCT, PLT) và sinh hóa chức năng gan - thận (AST, ALT, Protein, Cholesterol, Glucose) giữa lô thử và lô chứng. Chỉ số MCV ở chuột cái giảm nhẹ không đáng kể (3,1% và 2,7%), Creatinin ở chuột cái dao động nhẹ trong giới hạn sinh lý.
    • Đại thể và vi thể cơ quan: Tỷ lệ khối lượng phần lớn các cơ quan (tim, thận, thượng thận) không thay đổi so với lô chứng. Hình ảnh mô bệnh học vi thể gan và thận sau 28 ngày dùng cao Sâm báo không ghi nhận tổn thương bệnh lý cấu trúc (cầu thận, ống thận bình thường; tế bào gan chỉ thoái hóa nhẹ tương tự lô chứng).

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

Chương này phân tích, so sánh các phát hiện thực nghiệm với các tài liệu khoa học đã công bố:

  • Về tác dụng tăng lực: Tác dụng kéo dài thời gian bám trên trụ quay của Sâm báo liều 2,7 g/kg sau 14 ngày được lý giải nhờ sự hiện diện của các nhóm hợp chất chuyển hóa thứ cấp như flavonoid, phytosterol, acid béo chưa no, acid amin thiết yếu và nguyên tố vi lượng, giúp hỗ trợ chuyển hóa năng lượng tế bào và tăng sức bền cơ bắp.
  • Về tác dụng chống loét: Khác với Cimetidin ức chế tiết acid, cao Sâm báo không làm thay đổi các chỉ số toan dịch vị mà chủ yếu tác động thông qua cơ chế bảo vệ niêm mạc. Lớp chất nhầy dồi dào (chiếm 35–40% trong rễ củ) đóng vai trò rào cản cơ học bao phủ ổ loét, kết hợp với các hợp chất chống oxy hóa giúp giảm độ sâu tổn thương niêm mạc do ứ trệ dịch vị.
  • Về độ an toàn: Mức liều dung nạp tối đa $8,1\text{ g/kg}$ trong thử nghiệm độc tính cấp cao gấp nhiều lần liều dùng thông thường trên người, chứng minh Sâm báo có phạm vi an toàn rất rộng. Các dữ liệu huyết học, sinh hóa và mô bệnh học vi thể 28 ngày khẳng định cao Sâm báo không gây tổn thương hay rối loạn chức năng gan, thận khi dùng lặp lại.

Kết quả và đóng góp

Bảng tổng hợp các kết quả thực nghiệm chính

Nội dung thực nghiệm Chỉ số theo dõi Lô chứng / Chứng bệnh Lô thử Sâm báo (1,35 g/kg) Lô thử Sâm báo (2,7 g/kg) Lô đối chứng dương
Tác dụng tăng lực (Rotarod) Thời gian bám ngày 14 (giây) $59\text{ s}$ $77\text{ s}$ ($p>0,05$) $267\text{ s}$ ($p=0,028$) Sulbutiamin: $250\text{ s}$ ($p=0,023$)
Mô hình thắt môn vị (Shay) Điểm loét (thang điểm 0–3) $2\text{ điểm}$ $1\text{ điểm}$ ($p=0,01$) $1\text{ điểm}$ ($p=0,01$) Cimetidin: $1\text{ điểm}$ ($p=0,002$)
Phần trăm ức chế loét (%) — $10,8%$ $7,6%$ Cimetidin: $49,4%$
pH dịch vị $2,1 \pm 0,2$ $1,9 \pm 0,2$ $1,7 \pm 0,1$ $2,9 \pm 0,7$
Độc tính cấp (OECD TG-420) Số động vật chết sau 14 ngày — $0/10$ (liều $5,4\text{ g/kg}$) $0/10$ (liều $8,1\text{ g/kg}$) Chưa xác định $LD_{50}$
Độc tính 28 ngày (OECD TG-407) AST đực / cái (U/L) $317,2$ / $264,1$ $297,1$ / $288,5$ $336,3$ / $299,0$ Không sai khác ($p>0,05$)
ALT đực / cái (U/L) $133,0$ / $110,9$ $121,3$ / $119,0$ $128,8$ / $124,2$ Không sai khác ($p>0,05$)
Mô bệnh học gan, thận Cấu trúc bình thường Tương đương chứng Tương đương chứng Không phát hiện bệnh lý

Đóng góp khoa học và thực tiễn

  • Đóng góp học thuật: Khóa luận cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm hoàn chỉnh về hiệu quả tăng lực và tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày của cao Sâm báo chiết xuất kết hợp dung môi cồn - nước. Kết quả nghiên cứu làm rõ cơ chế chống loét của Sâm báo thiên về bảo vệ tế bào và giảm độ sâu vết loét hơn là ức chế bài tiết acid dịch vị.
  • Giá trị thực tiễn: Khẳng định tính an toàn tiền lâm sàng (không có độc tính cấp ở liều cao và an toàn qua 28 ngày sử dụng lặp lại), tạo cơ sở khoa học tin cậy cho đề tài nghiên cứu công nghệ sản xuất các dạng bào chế thực phẩm bảo vệ sức khỏe từ cây Sâm báo trồng tại tỉnh Thanh Hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu mới dừng lại ở quy mô thực nghiệm dược lý tiền lâm sàng trên động vật (in vivo) với hai mô hình cơ bản là Rotarod và thắt môn vị Shay; chưa khảo sát tác dụng trên các mô hình loét do hóa chất khác (như ethanol, NSAIDs) hoặc mô hình gây loét mạn tính bằng acid acetic trong cùng đợt thử nghiệm mẫu cao chiết kết hợp này. Khóa luận cũng chưa định lượng các chỉ số sinh hóa chuyên sâu về yếu tố bảo vệ tại chỗ (như định lượng nồng độ chất nhầy mucin, Prostaglandin $E_2$ niêm mạc dạ dày) hoặc các chất trung gian thần kinh liên quan đến thể lực.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    1. Mở rộng đánh giá tác dụng bảo vệ dạ dày của cao chiết trên các mô hình thực nghiệm khác (loét do stress, do ethanol tuyệt đối, loét do Indomethacin).
    2. Đi sâu phân tích cơ chế phân tử liên quan đến tác dụng tăng lực (định lượng glycogen gan, cơ, nồng độ acid lactic máu sau vận động).
    3. Hoàn thiện tiêu chuẩn cơ sở cho cao chiết và tiến hành thử nghiệm độc tính trường diễn dài ngày phục vụ hồ sơ cấp phép sản phẩm bảo vệ sức khỏe.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn cao đối với:

  • Sinh viên và học viên ngành Dược học, Y học cổ truyền: Nắm bắt phương pháp thiết kế nghiên cứu dược lý thực nghiệm đánh giá tác dụng tăng lực (mô hình Rotarod) và tác dụng chống loét (mô hình Shay).
  • Cán bộ nghiên cứu Dược lý - Độc chất: Tham khảo quy trình chuẩn thử nghiệm độc tính cấp (OECD TG-420) và độc tính bán trường diễn 28 ngày (OECD TG-407) trên động vật gặm nhấm, bao gồm các bảng chỉ số huyết học, sinh hóa chuẩn của chuột cống Wistar.
  • Các nhà phát triển sản phẩm dược liệu: Tham khảo quy trình chiết xuất kết hợp cồn - nước giúp tối ưu hóa hiệu suất thu hồi hoạt chất từ rễ củ Sâm báo phục vụ phát triển sản phẩm thương mại.

Câu hỏi thường gặp

1. Mẫu cao Sâm báo dùng trong nghiên cứu được chiết xuất bằng phương pháp nào và đạt hiệu suất bao nhiêu?
Mẫu nghiên cứu là cao khô rễ củ Sâm báo (Abelmoschus sagittifolius) được chiết bằng nước nóng 2 lần (tỷ lệ 1:10), sau đó phần bã tiếp tục được chiết nóng với cồn 50°C 2 lần (tỷ lệ 1:10). Dịch chiết gộp được chưng cất thu hồi dung môi và sấy khô dưới áp suất giảm, thu được cao khô có độ ẩm dưới 5% với hiệu suất chiết đạt 27–28%.

2. Tác dụng tăng cường thể lực của cao Sâm báo thể hiện ở mức liều và thời gian nào?
Cao Sâm báo thể hiện tác dụng tăng lực rõ rệt ở mức liều 2,7 g cao/kg cân nặng (tương đương 10 g dược liệu/kg) sau 14 ngày uống liên tục. Thời gian bám trên trụ quay Rotarod của chuột đạt trung vị 267 giây, tăng 153,3% so với lô chứng ($p = 0,028$), tương đương với thuốc đối chứng Sulbutiamin 100 mg/kg (tăng 130,6%, $p = 0,023$). Mức liều 1,35 g cao/kg sau 14 ngày chưa cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

3. Cao Sâm báo chống loét dạ dày theo cơ chế ức chế acid hay bảo vệ niêm mạc?
Cao Sâm báo chống loét chủ yếu theo cơ chế bảo vệ niêm mạc. Trên mô hình thắt môn vị Shay, cao Sâm báo ở cả 2 mức liều không làm thay đổi có ý nghĩa thống kê về pH dịch vị, thể tích dịch vị và độ acid toàn phần, nhưng làm giảm điểm loét có ý nghĩa thống kê từ mức trung vị 2 điểm xuống 1 điểm ($p = 0,01$), đạt mức ức chế loét 10,8% (liều 1,35 g/kg) và 7,6% (liều 2,7 g/kg).

4. Kết quả thử nghiệm độc tính cấp và độc tính bán trường diễn 28 ngày của cao Sâm báo như thế nào?

  • Độc tính cấp: Ở mức liều tối đa cho uống $8,1\text{ g cao/kg}$ (tương đương $30\text{ g dược liệu/kg}$), không có chuột chết và không xuất hiện triệu chứng bất thường sau 14 ngày theo dõi, chưa xác định được $LD_{50}$.
  • Độc tính bán trường diễn: Sau 28 ngày uống liều lặp lại (1,35 g/kg và 2,7 g/kg), cao Sâm báo không gây ảnh hưởng bất lợi lên sự tăng trưởng thể trọng, không làm biến đổi bệnh lý các chỉ số huyết học, không gây độc tính chức năng gan (AST, ALT), thận (creatinin) và không làm biến đổi cấu trúc mô bệnh học vi thể của gan và thận.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp dược sĩ của tác giả Nguyễn Thị Huyền đã nghiên cứu có hệ thống và chứng minh thành công tác dụng dược lý cũng như độ an toàn của cao khô Sâm báo (Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr). Ở mức liều 2,7 g/kg dùng trong 14 ngày, cao Sâm báo thể hiện tác dụng tăng cường thể lực rõ rệt tương đương thuốc đối chứng Sulbutiamin, đồng thời thể hiện khả năng làm giảm mức độ tổn thương niêm mạc dạ dày trên mô hình thắt môn vị. Kết quả thử nghiệm độc tính cấp và độc tính bán trường diễn 28 ngày khẳng định tính an toàn cao của chế phẩm trên động vật thực nghiệm, tạo tiền đề khoa học vững chắc cho việc ứng dụng và phát triển Sâm báo Thanh Hóa thành các sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe phục vụ cộng đồng.