Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2007–2017, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng ấn tượng với tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu so với tổng sản phẩm trong nước (GDP) thường xuyên vượt ngưỡng 80% đến hơn 90%. Tuy nhiên, việc gia tăng quy mô xuất khẩu đơn thuần chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả thực chất của nền kinh tế nếu giá trị gia tăng nội địa thu về không tương xứng. Phần lớn các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung phân tích mối quan hệ giữa kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng GDP, bỏ qua khía cạnh cốt lõi là giá trị gia tăng (GVA) và mối quan hệ liên ngành giữa các khu vực sản xuất.

Vấn đề đặt ra là nền kinh tế phụ thuộc lớn vào việc nhập khẩu nguyên phụ liệu trung gian phục vụ gia công, khiến giá trị tích lũy thực tế trong nước còn khiêm tốn. Mục tiêu cụ thể của luận văn là vận dụng mô hình Cân đối liên ngành (Input-Output - I-O) để lượng hóa chính xác mức độ ảnh hưởng của xuất khẩu đến giá trị gia tăng tại Việt Nam theo 3 kênh: tác động trực tiếp, tác động gián tiếp và tác động kích thích tiêu dùng. Nghiên cứu được triển khai trong phạm vi không gian toàn bộ nền kinh tế Việt Nam và phạm vi thời gian từ năm 2007 đến năm 2017, dựa trên dữ liệu bảng I-O chính thức của Tổng cục Thống kê. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài là cung cấp hệ thống số liệu định lượng về hệ số giá trị gia tăng và chỉ số lan tỏa của 39 nhóm ngành kinh tế, tạo căn cứ giúp các nhà hoạch định chính sách chuyển dịch trọng tâm từ tăng trưởng số lượng xuất khẩu sang nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng nội địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế vĩ mô và thương mại quốc tế kinh điển. Lý thuyết tổng cầu của John Maynard Keynes chỉ ra rằng xuất khẩu là một thành tố ngoại sinh quan trọng của cầu cuối cùng, khi xuất khẩu tăng lên 1 đơn vị sẽ kích thích quy mô sản xuất và tạo thêm giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Về mặt thương mại, nghiên cứu tổng hợp các lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, lợi thế so sánh của David Ricardo, mô hình các yếu tố sản xuất của Heckscher-Ohlin và nghịch lý Leontief để giải thích động lực trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia. Đặc biệt, luận văn ứng dụng lý thuyết tăng trưởng không cân bằng của Albert Hirschman, tập trung vào việc xác định các ngành kinh tế then chốt thông qua chỉ số liên kết ngược (Backward Linkage - BL) và liên kết xuôi (Forward Linkage - FL).

Khung phân tích vận dụng các khái niệm cốt lõi từ Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), bao gồm: Giá trị sản xuất (GO), Chi phí trung gian (IC), Giá trị gia tăng (VA) và Tổng sản phẩm trong nước (GDP). Trong đó, mối quan hệ cơ bản được xác định qua công thức $VA = GO - IC$, phản ánh thực chất phần giá trị mới được tạo ra trong kỳ sản xuất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khai thác nguồn dữ liệu thứ cấp chính thức từ Tổng cục Thống kê, bao gồm bảng I-O năm 2007 với quy mô 138 ngành và bảng I-O năm 2012 với quy mô 168 ngành sản phẩm, kết hợp số liệu thống kê xuất nhập khẩu phân loại theo mã HS 8 chữ số của Tổng cục Hải quan giai đoạn 2007–2017.

Về phương pháp xử lý dữ liệu, tác giả thực hiện hợp nhất và phân tổ 168 ngành sản phẩm của bảng I-O 2012 thành 39 nhóm ngành kinh tế theo Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam (VSIC 2007) và chuẩn NACE Rev 2.0 của quốc tế nhằm đảm bảo tính đồng nhất về công nghệ sản xuất. Do bảng I-O công bố ở dạng nhập khẩu cạnh tranh gây nhiễu tác động lan tỏa trong nước, nghiên cứu đã tiến hành kỹ thuật chuyển đổi sang bảng I-O dạng nhập khẩu phi cạnh tranh thông qua việc tách riêng ma trận nhập khẩu $A^m$ và ma trận kỹ thuật nội địa $A^d$.

Lý do lựa chọn mô hình I-O Leontief thông qua phương trình ma trận $X = (I - A^d)^{-1} \cdot Y^d$ là vì mô hình này cho phép bóc tách toàn diện chuỗi liên kết liên ngành, đo lường chính xác cả hiệu ứng trực tiếp lẫn hiệu ứng lan tỏa gián tiếp qua nhiều chu kỳ sản xuất của 39 nhóm ngành trong nền kinh tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007–2017 đạt bình quân trên 15%/năm, đóng góp đáng kể vào mở rộng giá trị sản xuất, nhưng tốc độ lan tỏa sang giá trị gia tăng lại thấp hơn. Hệ số giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất ($VA/GO$) của các ngành xuất khẩu chủ lực thuộc khu vực chế biến chế tạo và FDI chỉ đạt khoảng 20% đến 30%, do tỷ trọng chi phí trung gian nhập khẩu chiếm tới 70% đến 80% cơ cấu đầu vào.

Thứ hai, tác động lan tỏa trực tiếp và gián tiếp có sự phân hóa sâu sắc giữa các nhóm ngành. Khi xuất khẩu tăng 1 tỷ đồng ở các ngành công nghiệp chế biến thâm dụng lao động và công nghệ như linh kiện điện tử hay dệt may, giá trị sản xuất tăng mạnh nhưng mức lan tỏa giá trị gia tăng nội địa gián tiếp chỉ đạt khoảng 0,25 đến 0,35 tỷ đồng. Ngược lại, các ngành nông - lâm - thủy sản và chế biến thực phẩm có hệ số $VA/GO$ vượt mức 55% đến 65%, tạo ra mức lan tỏa giá trị gia tăng nội địa đạt trên 0,60 tỷ đồng cho mỗi 1 tỷ đồng xuất khẩu.

Thứ ba, tác động kích thích tiêu dùng thông qua thu nhập của người lao động đóng góp thêm khoảng 15% đến 20% vào tổng giá trị gia tăng chu chuyển của toàn nền kinh tế, chứng minh rằng mở rộng việc làm từ xuất khẩu đã thúc đẩy tiêu dùng nội địa ở các chu kỳ sản xuất kế tiếp.

Thứ tư, thông qua phân tích ma trận nghịch đảo Leontief, nghiên cứu xác định được nhóm ngành có hệ số liên kết ngược $BL > 1$ và liên kết xuôi $FL > 1$ chủ yếu tập trung ở ngành nông sản chế biến, sản phẩm gỗ và một số ngành công nghiệp chế biến sử dụng nguyên liệu trong nước.

Thảo luận kết quả

Thực trạng giá trị gia tăng thu về từ xuất khẩu còn thấp bắt nguồn từ việc Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu chủ yếu ở khâu gia công, lắp ráp có giá trị gia tăng thấp nhất trên "đường cong nụ cười" (Smile Curve). Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu nhưng mối liên kết với các nhà cung ứng nội địa còn lỏng lẻo, dẫn đến hiện tượng nhập siêu nguyên phụ liệu trung gian lớn.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu thực nghiệm tại nhóm các quốc gia ASEAN-5, khẳng định rằng xuất khẩu thâm dụng vốn và công nghệ cao nếu thiếu công nghiệp hỗ trợ sẽ tạo ra ngoại ứng tích cực rất hạn chế cho phần còn lại của nền kinh tế.

Dữ liệu tính toán từ mô hình I-O của luận văn có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tọa độ 4 góc phần tư thể hiện các chỉ số liên kết ngược ($BL$) và liên kết xuôi ($FL$). Trong đó, các ngành xuất khẩu mũi nhọn nằm ở góc phần tư thứ nhất ($BL > 1, FL > 1$) đóng vai trò đầu tàu kéo theo sự phát triển của toàn bộ chuỗi cung ứng trong nước. Đồng thời, một bảng so sánh cơ cấu phân bổ giữa chi phí trung gian ($IC$) và giá trị gia tăng ($VA$) của 39 nhóm ngành sẽ minh họa rõ nét mức độ giữ lại giá trị của từng lĩnh vực sản xuất.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tối đa hóa giá trị gia tăng từ hoạt động xuất khẩu, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Chuyển đổi chiến lược điều hành thương mại từ số lượng sang chất lượng: Bộ Công Thương cần xây dựng bộ chỉ số đo lường giá trị gia tăng nội địa trong hàng xuất khẩu thay vì chỉ theo dõi kim ngạch thô. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong tổng kim ngạch xuất khẩu từ mức khoảng 35% hiện nay lên đạt tối thiểu 50% vào năm 2030, ưu tiên chính sách xúc tiến thương mại cho các mặt hàng có hệ số $VA/GO$ cao trên 0,5.

  2. Phát triển mạng lưới công nghiệp hỗ trợ và tăng cường liên kết ngược: Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì triển khai gói chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp giảm 5% và hỗ trợ lãi suất vay vốn cho các doanh nghiệp cơ khí chế tạo, công nghiệp hỗ trợ cung ứng nguyên phụ liệu trong nước. Mục tiêu là nâng tỷ lệ nội địa hóa của các ngành dệt may, da giày và điện tử lên trên 45% trong giai đoạn 2020–2025 nhằm giảm thiểu rò rỉ giá trị gia tăng ra nước ngoài.

  3. Tập trung nguồn lực phát triển các ngành xuất khẩu then chốt: Chính phủ chỉ đạo tái cơ cấu danh mục đầu tư công, ưu tiên vốn tín dụng cho các ngành có cả hai chỉ số $BL > 1$ và $FL > 1$, đặc biệt là chế biến nông, lâm, thủy sản sâu và hóa chất phục vụ nông nghiệp. Thời gian thực hiện liên tục trong 10 năm với định hướng giảm xuất khẩu thô xuống dưới 10% tổng kim ngạch nông sản.

  4. Hiện đại hóa và định kỳ cập nhật cơ sở dữ liệu cân đối liên ngành: Tổng cục Thống kê cần xây dựng quy trình lập bảng I-O dạng phi cạnh tranh định kỳ 5 năm một lần và lập bảng I-O rút gọn hàng năm. Việc này cung cấp công cụ dự báo chính xác các cú sốc thương mại quốc tế tác động đến giá trị gia tăng của 39 nhóm ngành kinh tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương và Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Ứng dụng mô hình I-O và các chỉ số liên kết ngành để thẩm định dự án FDI, lựa chọn danh mục mặt hàng ưu tiên trợ cấp xúc tiến thương mại và xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ theo từng giai đoạn 5 năm.

  2. Chuyên gia nghiên cứu kinh tế và phân tích vĩ mô: Sử dụng quy trình chuyển đổi bảng I-O từ dạng cạnh tranh sang phi cạnh tranh và phương pháp phân tách hiệu ứng lan tỏa làm khung tham chiếu chuẩn mực cho các nghiên cứu định lượng về chuỗi giá trị và cấu trúc kinh tế.

  3. Lãnh đạo doanh nghiệp xuất khẩu và các hiệp hội ngành hàng: Tham khảo hệ số chi phí trung gian và tỷ trọng giá trị gia tăng của 39 nhóm ngành để đánh giá vị thế cạnh tranh, từ đó chủ động tìm kiếm nhà cung cấp nội địa nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất và hưởng ưu đãi quy tắc xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do.

  4. Học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Thống kê, Kinh tế học: Khai thác tài liệu như một cẩm nang phương pháp luận hoàn chỉnh về ứng dụng Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) và ma trận nghịch đảo Leontief trong phân tích chính sách kinh tế thực tiễn tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao xuất khẩu tăng trưởng cao nhưng giá trị gia tăng thu về cho nền kinh tế Việt Nam lại thấp?

Tình trạng này xuất phát từ việc phần lớn hàng xuất khẩu chủ lực thuộc khu vực FDI gia công lắp ráp với tỷ lệ chi phí trung gian nhập khẩu chiếm tới 70% đến 80%. Khi xuất khẩu 100 USD hàng hóa, giá trị gia tăng thực tế giữ lại trong nước thông qua tiền công và thuế chỉ đạt khoảng 20 đến 30 USD, phần còn lại chi trả cho nguyên liệu và thiết bị nhập khẩu.

Mô hình cân đối liên ngành I-O có ưu điểm gì vượt trội so với các mô hình hồi quy chuỗi thời gian?

Mô hình I-O cho phép lượng hóa chi tiết các mối quan hệ cung - cầu kỹ thuật đan xen giữa 39 nhóm ngành sản xuất trong toàn bộ nền kinh tế. Trong khi hồi quy chuỗi thời gian chỉ đưa ra kết quả ước lượng tổng thể ở cấp vĩ mô, bảng I-O bóc tách rõ ràng từng kênh tác động trực tiếp, gián tiếp và mức độ phụ thuộc nhập khẩu của từng ngành cụ thể.

Bảng I-O dạng nhập khẩu phi cạnh tranh khác biệt như thế nào so với dạng cạnh tranh?

Bảng I-O dạng cạnh tranh gộp chung sản phẩm sản xuất nội địa và hàng nhập khẩu vào cùng một dòng sử dụng trung gian, dẫn đến việc tính toán độ lan tỏa bị phóng đại. Bảng I-O phi cạnh tranh tách riêng ma trận hàng nhập khẩu $A^m$, cho phép nhà nghiên cứu cô lập chính xác mức độ kích thích đối với năng lực sản xuất thuần túy trong nước.

Chỉ số liên kết ngược và liên kết xuôi có ý nghĩa gì trong việc lựa chọn ngành ưu tiên phát triển?

Chỉ số liên kết ngược ($BL > 1$) phản ánh ngành đó tạo ra sức cầu lớn đối với sản phẩm đầu vào của các ngành khác trong nền kinh tế. Chỉ số liên kết xuôi ($FL > 1$) cho thấy sản phẩm của ngành là đầu vào quan trọng cho nhiều ngành sản xuất tiếp theo. Ngành có cả $BL$ và $FL$ lớn hơn 1 được xem là ngành đầu tàu giúp kéo theo toàn bộ hệ thống kinh tế cùng tăng trưởng.

Tác động kích thích của xuất khẩu đến giá trị gia tăng diễn ra qua cơ chế nào trong chu kỳ kinh tế?

Khi xuất khẩu mở rộng, doanh nghiệp gia tăng sản xuất và tạo thêm thu nhập dưới dạng tiền lương, tiền công cho người lao động. Khoản thu nhập này được các hộ gia đình sử dụng để chi tiêu mua sắm hàng hóa tiêu dùng cuối cùng, từ đó tiếp tục kích thích trực tiếp và gián tiếp đến sản xuất của các ngành cung ứng nội địa ở các chu kỳ tiếp theo.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện tác động của xuất khẩu đến giá trị gia tăng giai đoạn 2007–2017 thông qua mô hình cân đối liên ngành I-O chuẩn hóa cho 39 nhóm ngành kinh tế Việt Nam.
  • Kết quả lượng hóa chứng minh khu vực xuất khẩu thâm dụng nhập khẩu tạo ra giá trị gia tăng nội địa thấp hơn đáng kể so với các ngành chế biến nông sản và sản phẩm sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước.
  • Nghiên cứu đã thành công trong việc chuyển đổi bảng I-O từ dạng cạnh tranh sang phi cạnh tranh, loại bỏ nhiễu số liệu nhập khẩu để phản ánh chính xác năng lực nội sinh của nền kinh tế.
  • Hệ thống chỉ số liên kết ngược và liên kết xuôi đã định vị rõ ràng danh mục các ngành xuất khẩu mũi nhọn có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa giá trị gia tăng cao nhất trên 60%.
  • Tác giả đóng góp cơ sở dữ liệu và khuyến nghị chính sách cụ thể theo lộ trình 2020–2030, kêu gọi các cơ quan quản lý chuyển đổi mục tiêu tăng trưởng sang nâng cao hàm lượng nội địa hóa.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và học viên quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình nghiên cứu để tiếp cận trọn vẹn hệ thống ma trận Leontief 39 ngành và các công thức phân rã giá trị gia tăng chi tiết.