CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC THỊ TRƯỜNG MỚI NỔI Giới thiệu Các quốc gia thị trường mới nổi (EMs – Emerging Markets) được kỳ vọng sẽ đóng một vai trò quan trọng trong thương mại và tài chính quốc tế cũng như đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Hiện nay, các quốc gia thị trường mới nổi (EMs) đang chuyển đổi nền kinh tế nhanh chóng từ nền kinh tế đóng sang nền kinh tế mở. Các quốc gia này từng một thời bị coi là lạc hậu, kinh tế kém phát triển và khoa học yếu kếm, thì giờ đây EMs đã nâng cao khả năng quản lý, chuyên môn và áp dụng các khoa học công nghệ tiên tiến, kỹ thuật sản xuất hiện đại hơn tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng.
Hơn nữa, EMs dần trở thành thị trường tiêu thụ trọng điểm và khẳng định mình là một đối thủ nặng ký trên trường đua thị trường quốc tế. Có thể nói, các thị trường mới nổi đang phát triển với tốc độ thị trường tăng nhanh chóng sẽ là nguồn lực tăng trưởng trọng tâm cho cả thế giới trong những thập niên tiếp theo. Định nghĩa thị trường mới nổi Các thuật ngữ như “Thị trường đang phát triển”, “Thị trường mới nổi” hay “Các quốc gia công nghiệp hóa nhanh chóng” thường được sử dụng thay thế cho nhau, chúng thường dẫn đến sự nhầm lẫn trong việc định nghĩa các thị trường mới nổi. Thuật ngữ “Thị trường mới nổi” được sử dụng lần đầu tiên vào cuối năm 1980 bởi nhà kinh tế học Antoine van Agtmael của Ngân hàng thế giới (Agtmael, 2007).
Theo đó, thị trường mới nổi là những thị trường đang trong giai đoạn chuyển đổi từ thị trường đang phát triển sang thị trường phát triển do tốc độ tăng trưởng và công nghiệp hóa nhanh chóng. Do đó, các thị trường đã: (i) bắt đầu một quá trình cải cách kinh tế nhằm giảm bớt các vấn đề kinh tế - xã hội của quốc gia đó như đói nghèo, cơ sở hạ tầng kém và dân số quá đông; (ii) đạt mức tăng trưởng tương đối cao và ổn định về tổng sản phẩm quốc dân trên đầu người; (iii) tăng cường hội nhập trong nền kinh tế toàn cầu; được gọi là nền kinh tế mới nổi. 1 Những đặc điểm khái quát dễ nhận định là các quốc gia thuộc thị trường mới nổi thường thông qua yếu tố dân số đông, tốc độ tăng trưởng GDP nhanh, cũng như đóng góp vào thương mại thế giới như xuất nhập khẩu tăng, đầu tư nước ngoài ngày càng lớn hơn. Các thị trường như vậy cũng được xác định bởi các cải cách kinh tế tiến bộ và kỳ vọng tăng tốc mở rộng kinh tế.
Tốc độ tăng trưởng cao và công nghiệp hóa cũng dẫn đến đô thị hóa ở các thị trường mới nổi. Song song đó, mức thu nhập thường tăng nhanh, cả sự gia tăng dân số và dân số trẻ của quốc gia đó. IMF (2021) đề cập rằng không có định nghĩa chính thức về thị trường mới nổi mà thường xét dựa trên một số tiêu chí để phân loại các quốc gia là phát triển hay thị trường mới nổi và danh sách này thường hay thay đổi dựa theo các chỉ số và dự báo tăng trưởng hằng năm. Ngoài ra, các danh sách này cũng khác nhau giữa các tổ chức, vì họ thực hiện phân loại dựa trên nhiều loại chỉ số và dự báo tăng trưởng khác nhau như là FTSE, MSCI, IMF….
Chỉ số FTSE chia nhỏ các thị trường chứng khoán theo mức độ phát triển của chúng. Theo đó các quốc gia mới nổi tiên tiến nhất (xếp loại 1) bao gồm: Brazil, Cộng hòa Séc, Hy Lạp, Hungary, Malaysia, Mexico, Nam Phi, Đài Loan, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kì. Các nước mới nổi xếp thứ hai là Chile, Trung Quốc, Colombia, Ai Cập, Ấn Độ, Indonesia, Kuwait, Pakistan, Philipines, Qatar, Romonia, Nga, Ả Rập Xê Ut (FTSE, 2021). Chỉ số MSCI phân loại dựa trên quy mô của các công ty và khả năng tiếp cận thị trường.
Với cơ sở này, các thông tin đánh giá thị trường có ổn định hay không, thị trường liệu có mở cửa cho sở hữu nước ngoài, thêm vào đó, sự hiệu quả của khuôn khổ hoạt động và sự ổn định của khuôn khổ thể chế (MSCI, 2012) đã phân loại các thị trường mới nổi gồm Brazil, Chile, Colombia, Mexico, Peru là một phần của Châu Mỹ; Các quốc gia như Cộng Hòa Séc, Ai Cập, Hungary, Maroc, Nam Phi và Thổ Nhĩ Kỳ thuộc khu vực châu Âu, Trung Đông và Châu Phi; Phần còn lại bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan nằm trong khu vực châu Á. Ngoài ra, còn một số tiêu chí đánh giá các thị trường mới nổi khác như: “Chỉ số cơ hội cho các thị trường mới nổi” dựa vào các chỉ số như GDP danh nghĩa, GDP thực, 2 quy mô dân số, thương mại quốc tế và dự báo trong tương lai (Thornton, 2010). Hay, Gilman (2010) xem xét dựa trên ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định chính trị, độ mở nền kinh tế cũng như chất lượng nguồn nhân lực đề cập đến những quốc gia phát triển nhanh của thế kỷ 21 như: Việt Nam, Ai Cập, Indonesia, Iran, Mexico, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh…. IMF (2021) phân loại EMs dựa trên các tiêu chí như: (i) Sự hiện diện có hệ thống: Quy mô nền kinh tế (GDP danh nghĩa), dân số và tỷ trọng xuất khẩu trong thương mại toàn cầu; (ii) Tiếp cận thị trường: Tỷ lệ nợ nước ngoài của quốc gia so với nợ nước ngoài toàn cầu, các chỉ số toàn cầu được các tổ chức đầu tư quốc tế lớn sử dụng, tần suất và số lượng trái phiếu quốc tế phát hành; (iii) Mức thu nhập: GDP bình quân đầu người tính bằng USD.
Các quốc gia EMs theo IMF (2021) bao gồm: Argentina, Brazil, Chile, Trung Quốc, Colombia, Ai cập, Hungary, Ấn Độ, Indonesia, Iran, Malaysia, Mexico, Philippines, Ba Lan, Nga, Saudi Arabia, Nam Phi, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, UAE. Để phân biệt giữa các thị trường kém phát triển và các thị trường mới nổi có thể xem xét dưới góc độ các số liệu tăng trưởng và mức độ cải thiện đời sống của các quốc gia này. Sự cam kết tăng trưởng bền vững cùng với những nỗ lực không ngừng để bắt kịp với các quốc gia công nghiệp phát triển khác và sự hiện diện thương mại của các EMs trong hoạt động thương mại trên thế giới đã giúp phân biệt các quốc gia mới nổi với các quốc gia kém phát triển.1 cho thấy các chỉ số về tăng trưởng kinh tế (tính theo USD) năm 2020, GDP danh nghĩa trên đầu người, tốc độ GDP trung bình 2016 - 2020 (%), dân số, đầu tư và đô thị hóa và các chỉ số quan trọng đối với các nền kinh tế phát triển được chọn để so sánh của các nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn 2016 - 2020. Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình giai đoạn 2016 - 2020 cho thấy mức độ đóng góp ngày càng tăng của các nền kinh tế mới nổi đối với tăng trưởng thế giới (chiếm 24%) và nhấn mạnh tiềm năng của các nước mới nổi trong tương lai.
Số liệu tăng trưởng kinh tế 2020 cũng cho thấy ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 lên nền kinh tế của cả nhóm nước phát triển và nhóm nước mới nổi. Giai đoạn 2016-2020, ngoại trừ Brazil tăng trưởng âm (-0.5%), 3 các nước BRICS vẫn duy trì tăng trưởng dương như Trung Quốc (5.8%) và các nền kinh tế mới nổi khác như Ai Cập (4.4%), Thổ Nhĩ Kỳ (3. BRICS và các nền kinh tế mới nổi GDPn GDP Tốc độ tăng GDPn Dân số Đầu tư, Đô 2020($) trên đầu trưởng bình quân (Triệu) dòng thị người, GDP 2016- trên đầu 2020 tiền hóa 2020 ($) 2020 (%) người vào (%), 2020 (tỷ $) 2019 WORLD 84,705 10,566 1.5 7753 1744 56% Các quốc gia phát triển Tỷ lệ của các 61% quốc gia phát triển Mỹ 20,937 53,749 1.3% 1,402 187 61% Tỷ lệ của các 24% 40% 19% BRICS Các nền kinh tế mới nổi khác Chile 253 13,231 0.8 51% Thổ Nhĩ Kỳ 720 8,538 3.7% 84 9 76% Nguồn: Ngân hàng Thế giới (2021) Nhìn chung trong giai đoạn 2016 - 2020, các nước mới nổi có tốc độ tăng trưởng trung bình cao hơn các nước phát triển. Về chỉ số GDPn bình quân đầu người (%) trong năm 2020, cả các nước phát triển và các nước mới nổi đều chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch Covid-19.
Do hội nhập kinh tế sâu rộng nên hầu hết các nước mới nổi đều bị ảnh hưởng và tăng trưởng âm (ngoại trừ Trung Quốc 2. Xét về vốn đầu tư năm 2019, các nước thị trường mới nổi đón nhận dòng vốn vào khá lớn như Trung Quốc (187 tỷ USD), Brazil (69 tỷ USD), Ấn Độ (50 tỷ USD), Nga (31 tỷ USD). Bên cạnh đó, tỷ lệ đô thị hóa của các quốc gia mới nổi tương đối cao, như Brazil (87%), Nga (78%), Trung Quốc (61%), Ấn Độ (35%). Các nền kinh tế mới nổi khác cũng có tỷ lệ đô thị hóa cao như Mexico (81%), Chile (88%), Thổ Nhĩ Kỳ (76%), Nam Phi (67%).
Tầm quan trọng của các EMs trong nền kinh tế toàn cầu Trước đây, thị trường mới nổi có đặc trưng là các doanh nghiệp trong nước được bảo hộ, thuế quan cao, thể chế yếu kém, các tập đoàn, kinh doanh theo nhóm, và môi trường kinh tế không ổn định. Vào cuối thế kỷ 20, các thị trường mới nổi bắt đầu tiến hành cải cách cơ cấu nhằm tạo ra sự ổn định và tăng trưởng. Do những cải cách như vậy, nhiều thị trường mới nổi đã ổn định nền kinh tế và bắt đầu tăng trưởng nhanh chóng. Khi các thị trường mới nổi áp dụng cách tiếp cận tương đối cởi mở với thương mại thế giới, các quốc gia này đã có thể hội nhập với nền kinh tế toàn cầu.
Các đóng góp ngày càng tăng của các EMs vào thương mại thế giới đã làm cho các quốc gia này thu hút được nhiều chú ý từ các quốc gia phát triển. Nhiều thị trường đã trở thành những nhà xuất khẩu lớn và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thị trường phát triển và mới nổi đã tăng lên. Tự do hóa cũng tăng cường sự tập trung vào các EMs trong nền kinh tế toàn cầu khi các thị trường này mang lại cơ hội lớn trong việc đầu tư nước ngoài. 5 Thêm vào đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các EMs thường là cao hơn so với các quốc gia có nền kinh tế đã phát triển.
Do đó, những EMs sẽ có triển vọng thu hút đầu tư ngày càng cao.