MỞ ĐẦU. LƯỢC SỬ VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. TỔNG QUAN VỀ TINH DẦU SẢ. Hệ thống phân loại.
Đặc điểm hình thái. Thành phần hoá học. Tính kháng khuẩn. SƠ LƯỢC VỀ VI KHUẨN Streptococcus agalactiae.
Đặc điểm hình thái, cấu trúc hiển vi. Đặc điểm sinh trưởng, phát triển. Đặc điểm sinh hóa. SƠ LƯỢC VỀ CÁ ĐIÊU HỒNG.
Hệ thống phân loại. Đặc điểm hình thái. Nguồn gốc và phân bố. Đặc điểm dinh dưỡng.
Đặc điểm sinh trưởng. Đặc điểm sinh sản. SƠ LƯỢC VỀ HỆ MIỄN DỊCH Ở CÁ. Đáp ứng miễn dịch bẩm sinh (miễn dịnh không đặc hiệu).
Đáp ứng miễn dịch thích nghi (miễn dịch đặc hiệu). TỔNG QUAN VỀ BỆNH Ở CÁ ĐIÊU HỒNG DO VI KHUẨN Streptococcus agalactiae GÂY RA. Biểu hiện bệnh lí bên ngoài. Các tổn thương bên trong.
KHÁNG NGUYÊN KHÁNG THỂ. Kháng nguyên. Kháng thể. Phản ứng ngưng kết kháng nguyên – kháng thể.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU. Thời gian nghiên cứu. Địa điểm nghiên cứu.
Vật liệu nghiên cứu. BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Phương pháp nuôi tăng sinh và đo mật độ vi khuẩn S.
Phương pháp pha loãng vi khuẩn. Phương pháp chăm sóc cá và quản lí thí nghiệm. Phương pháp gây nhiễm vi khuẩn S. Phương pháp bổ sung tinh dầu sả vào khẩu phần của cá.
Phương pháp thu thập và phân tích máu. Phương pháp xử lí số liệu. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN. Một số chỉ số miễn dịch ở cá Điêu hồng Oreochromis sp.
Các loại bạch cầu. Các chỉ số thực bào. Hiệu giá kháng thể. Một số chỉ số miễn dịch ở cá Điêu hồng cảm nhiễm S.
Số lượng bạch cầu. Các loại bạch cầu. Các chỉ số thực bào. Hiệu giá kháng thể.
Ảnh hưởng của khẩu phần ăn có bổ sung tinh dầu sả chanh đến một số chỉ số miễn dịch cá Điêu hồng. Số lượng bạch cầu. Các loại bạch cầu. Các chỉ số thực bào.
Hiệu giá kháng thể. Sự biến đổi một số chỉ số miễn dịch ở cá Điêu hồng dưới tác động của tinh dầu sả chanh bổ sung trong khẩu phần ăn khi cảm nhiễm S. Sự biến đổi về số lượng bạch cầu. Sự biến đổi về các loại bạch cầu.
Sự biến đổi của các chỉ số thực bào. Sự biến đổi của hiệu giá kháng thể. 54 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO .PL1 vi DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Kí hiệu Chú giải BC Bạch cầu Cs Cộng sự HC Hồng cầu HGKT Hiệu giá kháng thể HGKTTB Hiệu giá kháng thể trung bình NT Nghiệm thức NTĐC Nghiệm thức đối chứng TC Tiểu cầu vii DANH MỤC BẢNG Bảng 2.
Dụng cụ thí nghiệm. Hoá chất thí nghiệm. Mật độ từng loại bạch cầu của cá Điêu hồng ở điều kiện bình thường (×103/mm3). Các chỉ số thực bào của cá Điêu hồng ở điều kiện bình thường.
Số lượng bạch cầu cá Điêu hồng cảm nhiễm vi khuẩn S. Số lượng bạch cầu trung tính của cá Điêu hồng nhiễm vi khuẩn S. Số lượng bạch cầu mono của cá Điêu hồng cảm nhiễm. Số lượng bạch cầu lympho cá Điêu hồng nhiễm vi khuẩn S.
Các chỉ số thực bào của cá Điêu hồng nhiễm vi khuẩn S. Hiệu giá kháng thể cá Điêu hồng nhiễm vi khuẩn S. Số lượng bạch cầu của cá Điêu hồng sau khi bổ sung tinh dầu sả vào khẩu phần ăn 20 ngày (104 tb/mm3). Số lượng các loại bạch cầu của cá Điêu hồng sau khi bổ sung tinh dầu sả vào khẩu phần ăn 20 ngày (103 tb/mm3).
Các chỉ số thực bào của cá Điêu hồng sau khi bổ sung tinh dầu sả vào khẩu phần ăn 20 ngày. Hiệu giá kháng thể của cá Điêu hồng sau khi bổ sung tinh dầu sả vào khẩu phần ăn 20 ngày. Số lượng tổng bạch cầu của cá Điêu hồng dưới tác động của tinh dầu sả chanh ở các nồng độ khác nhau sau 5 ngày gây nhiễm (104 tb/mm3). Số lượng bạch cầu trung tính của cá Điêu hồng dưới tác động của tinh dầu sả chanh ở các nồng độ khác nhau sau 5 ngày gây nhiễm (103 tb/mm3).
Số lượng bạch cầu mono của cá Điêu hồng dưới tác động của tinh dầu sả chanh ở các nồng độ khác nhau sau 5 ngày gây nhiễm (103 tb/mm3). Số lượng bạch cầu lympho của cá Điêu hồng dưới tác động của tinh dầu sả chanh ở các nồng độ khác nhau sau 5 ngày gây nhiễm (103 tb/mm3). Chỉ số PI (%) của cá Điêu hồng dưới tác động của tinh dầu sả chanh ở các nồng độ khác nhau sau 5 ngày gây nhiễm. Chỉ số PR của cá Điêu hồng dưới tác động của tinh dầu sả chanh ở các nồng độ khác nhau sau 5 ngày gây nhiễm.
Hiệu giá kháng thể của cá Điêu hồng dưới tác động của tinh dầu sả chanh ở các nồng độ khác nhau sau 5 ngày gây nhiễm. 54 ix DANH MỤC HÌNH Hình 2. Các hồ nuôi cá được bố trí trong thí nghiệm. Sơ đồ bố trí thí nghiệm.
Vi khuẩn sau khi được li tâm. Máu sau khi li tâm. Đĩa 96 giếng xác định hiệu giá kháng thể. Kết quả hiệu giá kháng thể.
Các loại bạch cầu cá Điêu hồng Oreochromis sp. Giai đoạn bạch cầu tiếp cận đối tượng thực bào. Giai đoạn bạch cầu gắn và bắt các đối tượng thực bào. Giai đoạn bạch cầu hoàn thành hấp thụ và tiêu hóa các đối tượng thực bào.
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Cá Điêu hồng (Oreochromis sp.) hay cá Rô phi đỏ là một trong những giống cá nước ngọt được nuôi rộng rãi ở miền nam Việt Nam đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là một giống cá tiềm năng, được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng với nhiều ưu điểm như dễ nuôi, ít bị sốc với biến đổi của môi trường, chất lượng thịt thơm ngon, giàu chất dinh dưỡng, hàm lượng protein cao, ít xương. Cá Điêu hồng hiện nay được nuôi chủ yếu trong bè với mật độ thả nuôi rất cao và số lượng bè nuôi ngày một tăng [1]. Tuy nhiên, bên cạnh việc phát triển nhanh chóng, ngành nuôi trồng thủy sản và người nuôi hiện nay đang phải chịu nhiều rủi ro và thiệt hại về kinh tế khi dịch bệnh trên cá Điêu hồng ngày càng trở nên trầm trọng do chất lượng cá giống giảm, thức ăn kém chất lượng và ô nhiễm môi trường nước.
Một trong những bệnh phổ biến và gây thiệt hại nghiêm trọng trong mô hình nuôi cá Điêu hồng thâm canh là bệnh do nhóm vi khuẩn thuộc giống Streptococcus [1]. Trong đó, Streptococcus iniae và Streptococcus agalactiae là hai chủng vi khuẩn chính ảnh hưởng đến sản lượng cá rô phi trên thế giới. Ở Việt Nam, bệnh lần đầu tiên được ghi nhận đã xuất hiện và làm chết cá rải rác ở một số cơ sở nuôi bè tại An Giang vào năm 2004. Trên cá Rô phi, bệnh lồi mắt, xuất huyết là một bệnh gây chết với tỉ lệ cao, thời gian chết nhanh ở tất cả các giai đoạn phát triển của cá (từ cá giống đến cá thịt) [1].
Trong vòng bảy ngày, nhóm vi khuẩn này có thể gây ra tỉ lệ chết lên đến 70% trên cá Rô phi [2] dẫn đến những thiệt hại kinh tế rất nghiêm trọng. Hiện nay, giải pháp phổ biến trong việc đối phó với dịch bệnh là sử dụng các chất hoá học hoặc thuốc kháng sinh. Tuy nhiên, hầu hết các hộ nuôi không có nhiều kiến thức về kháng sinh đồ trong điều trị bệnh cá. Việc sử dụng kháng sinh, hóa chất không đúng cách là một trong nhiều bất cập, để lại nhiều tác hại không mong muốn như hiện tượng kháng kháng sinh ở các loài vi khuẩn, dẫn đến hiệu quả chữa trị không có hoặc rất thấp, ô nhiễm môi trường nước ảnh hưởng đến sinh vật thủy sinh khác và sinh hoạt cộng đồng,.
Ngoài ra, cá bán cho các thương lái hay chợ đầu mối cũng không cần kiểm tra kháng sinh dẫn đến mối nguy về tồn lưu kháng sinh trong sản phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng nội địa [3]. Do đó, việc nghiên cứu và tìm ra những 2 giải pháp mới thay thế là một nhu cầu tất yếu nhằm hướng đến một nền thủy sản bền vững trong tương lai. Một trong những hướng đi phổ biến hiện nay là sử dụng tinh dầu thực vật trong phòng trị bệnh nhiễm khuẩn với nhiều ưu điểm nổi trội như: dễ tìm kiếm, chi phí thấp, hoạt tính kháng khuẩn cao, hoạt động như một loại kháng sinh thân thiện có khả năng kích thích hệ miễn dịch tự nhiên của vật chủ, thân thiện với môi trường và không gây hiện tượng kháng thuốc. Ở Trung Quốc, các loại thảo mộc từ lâu đời cũng rất được quan tâm và được xem là một loại thuốc truyền thống, một chất tăng cường hệ thống miễn dịch của con người trong hàng ngàn năm [4].
Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược đối với nhóm vi khuẩn Streptococcus ở Việt Nam và trên thế giới: cao chiết vỏ quế chiết xuất trong ethanol 96% hoặc methanol 99,8% được ghi nhận là loại cao chiết thảo dược tiềm năng trong việc phòng bệnh do S. agalactiae gây ra trên cá Rô phi [5]. Dịch chiết lá cây hương thảo (Rosmarinus officinalis) có hiệu quả trị bệnh nhiễm khuẩn do Streptococcus sp. trên cá Rô phi (Oreochromis spp.
Kết quả thí nghiệm in vivo cho thấy khi cá rô phi ăn thức ăn có bổ sung bột lá xuyên tâm liên tách chiết bằng dung môi nước đã giảm tỉ lệ chết khi gây nhiễm với S. Dịch chiết lá hẹ (Allium tuberosum) trong nước, ethanol và methanol cho khả năng kháng Streptococcus sp. Dịch chiết lá cây trầu không (Piper betle) trong năm loại dung môi khác nhau đều có khả năng ức chế vi khuẩn in vitro trên chủng Streptococcus gây bệnh xuất huyết trên cá Rô phi [9]. Dịch chiết bằng nước của lá chùm ngây (Moringa oleifera) có tác dụng kháng vi khuẩn S.
agalactiae type 2 mạnh nhất, theo sau là chiết xuất bằng dung môi Chloroform của lá sầu đâu (Azadirachta indica) [10]. Sả chanh (Cymbopogon citratus) là một cây thuốc lâu đời và quen thuộc được sử dụng nhiều trong các bài thuốc Đông y. Các thành phần tự nhiên chứa trong sả không chỉ giúp giải cảm, giải độc cơ thể, hỗ trợ tiêu hóa, rối loạn kinh nguyệt mà còn giúp phòng ngừa ung thư hiệu quả.