phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chƣơng Chƣơng 1. Lý luận chung về tổng sản phẩm trong nƣớc và tác động của một ngành đến tổng sản phẩm trong nƣớc Chƣơng 2. Phƣơng pháp thống kê sử dụng mô hình bảng cân đối liên ngành 2012 của Việt Nam xác định tác động của một ngành đến tổng sản phẩm trong nƣớc Chƣơng 3. Kết quả tính toán tác động của nhóm ngành trồng trọt đến tổng sản phẩm trong nƣớc của Việt Nam trên Bảng cân đối liên ngành năm 2012 của Việt Nam CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƢỚC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT NGÀNH ĐẾN TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƢỚC 1.
Lý luận về Tổng sản phẩm trong nƣớc 1. Sự hình thành tổng sản phẩm trong nước Theo SNA(1993),“Tổng sản phẩm trong nước (GDP) được coi là thước đo giá trị của các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế”. GDP lần đầu tiên đƣợc biết đến do Simon Kuznets (1937) đƣa ra để trả lời câu hỏi: Nền kinh tế tăng trƣởng nhanh nhƣ thế nào? mô hình chi tiêu cho hành hóa và dịch vụ là gì? Bao nhiêu phần trăm tăng sản xuất là do lạm phát và bao nhiêu thu nhập tạo ra đƣợc sử dụng cho tiêu dùng mà không phải là đầu tƣ hay tiết kiệm. iv Năm 1941, nhà kinh tế học Wassily Leontief với tác phẩm “Cấu trúc nền kinh tế Hoa Kỳ” đã cho ra đời bảng cân đối liên ngành hoàn chỉnh, cho phép tính toán chỉ tiêu GDP theo ba phƣơng pháp.
Năm 1944, tại Bretton Woods, GDP đƣợc lựa chọn nhƣ một thƣớc đo tiến bộ kinh tế do đó GDP đã đƣợc IMF và WB sử dụng nhƣ một chỉ tiêu để đánh giá các nền kinh tế trên thế giới. Có thể thấy GDP là một công cụ đo lƣờng các giao dịch tiền tệ liên quan đến sản xuất hàng hóa và dịch vụ, hay nói cách khác nó là thƣớc đo hoạt động kinh tế không phải nền kinh tế hay tiến bộ xã hội.2 Khái niệm và ý nghĩa của tổng sản phẩm trong nước Theo OECD (2002), “tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product) là thước đo của toàn bộ hoạt động sản xuất bằng tổng giá trị tăng thêm của toàn bộ các đơn vị sản xuất thường trú (cộng với thuế sản phẩm đầu vào và trừ đi trợ cấp sản phẩm. GDP cũng bằng tổng sử dụng cuối cùng của hàng hóa và dịch vụ (tất cả các mục đích sử dụng trừ chi phí trung gian) được tính theo giá của người mua, trừ đi giá trị nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ hoặc bằng tổng thu nhập chính của các đơn vị sản xuất thường trú. Đơn vị thể chế được gọi là thường trú của một quốc gia nếu đơn vị đó có trung tâm lợi ích kinh tế (có trụ sở đơn vị, có địa điểm sản xuất hoặc nhà cửa có hoạt động sản xuất và giao dịch kinh tế với thời gian trên một năm) trong lãnh thổ kinh tế của quốc gia đó”.3 Phương pháp tính tổng sản phẩm trong nước GDP có ba phƣơng pháp tính: - Phương pháp sản xuất GDP = ∑VAt (theo giá cơ bản) + Thuế sản phẩm(có thuế nhập khẩu) – Trợ cấp sản phẩm (có trợ cấp nhập khẩu) Trong đó: ∑VAt = ∑(GOt – ICt ) GO: giá trị sản xuất theo giá cơ bản IC: Chi phí trung gian theo giá sử dụng v VA: Giá trị tăng thêm, đo lƣờng đóng góp vào GDP bởi các khu vực/ngành/các đơn vị sản xuất.
t : là ngành kinh tế - Phương pháp thu nhập GDP = COE + CFC + TP + OS COE: Thu nhập của ngƣời lao động từ sản xuất (bằng tiền và hiện vật) CFC: Khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất TP: Thuế sản xuất trừ đi trợ cấp sản xuất OS: Thặng dƣ sản xuất hoặc thu nhập hỗn hợp - Phương pháp sử dụng GDP (Y) = C + G + K + X - M Trong đó, C: sử dụng cuối cùng của hộ gia đình G: chi tiêu dùng cho chính phủ K: Tích lũy tài sản bao gồm tích lũy tài sản cố định, tài sản lƣu động và tài sản quý hiếm. X: Giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ M: Giá trị nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ X-M: Giá trị xuất khẩu ròng hàng hóa và dịch vụ 1.2 Lý luận về Hệ thống ngành kinh tế - Hệ thống ngành sản phẩm 1.1 Hệ thống ngành kinh tế Theo SNA(1993): “Ngành bao gồm một nhóm các đơn vị sản xuất có liên quan tới cùng một loại hoạt động hay các hoạt động tương tự. Lịch sử hình thành Hệ thống ngành kinh tế Theo ISIC Rev.4, năm 1948, Hệ thống ngành hoạt động kinh tế quốc tế (ISIC - International Standard Industrial Classification of all economic activities) đƣợc ban hành lần đầu tiên theo khuyến nghị của Ủy ban thống kê Liên hợp quốc về sự cần thiết phải có một chuẩn phân loại các hoạt động kinh tế để so sánh quốc tế về thống kê.Sự phát triển của nền kinh tế kéo theo những thay đổi các hoạt động sản xuất, xuất vi hiện ngày càng nhiều loại hình kinh tế mới đòi hỏi phải có sự cập nhật, đến nay ISIC đã đƣợc cơ quan Thống kê Liên Hợp Quốc cập nhật phiên bản thứ 5 (ISIC Rev4). Một số Hệ thống ngành kinh tế trên thế giới ISIC(International Standard Industrial Classification of all economic activities), hệ thống ngành hoạt động kinh tế quốc tế; SIC (Standard Industrial Classification) hệ thống ngành kinh tế của Hoa Kỳ; NAICS (The North American Industry Classification System), hệ thống ngành kinh tế của Bắc Mỹ; UK SIC (UK Standard Industrial Classification), hệ thống ngành kinh tế của Anh; NAEC(Statistical classification of economic activities in the European Community), hệ thống ngành hoạt độngkinh tế của cộng đồng châu Âu; Danh mục ngành kinh tế nhằm xác định phạm vi hoạt động sản xuất của từng ngành, từng lĩnh vực tham gia vào nền kinh tế, làm căn cứ cho việc tính toán quy mô, tỷ trọng đóng góp của từng ngành vàocơ cấu kinh tế của một quốc gia.
Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam Việt Nam Theo khuyến nghị của Liên hợp quốc đi theo các nguyên tắc phân loại và khung cấu trúc của Hệ thống ngành hoạt động kinh tế quốc tế. Theo VISIC 2007, “Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam được phân thành 5 cấp: Có 21 ngành cấp 1; ngành cấp 2 gồm 88 ngành;ngành cấp 3 gồm 242 ngành; ngành cấp 4 gồm 437 ngành; ngành cấp 5 gồm 642 ngành”. Đến VSIC 2018 vẫn đƣợc phân làm 5 cấp và bắt đầu mở rộng từ cấp 4 là 486 ngành và cấp 5 là 734 ngành. Hệ thống ngành sản phẩm Theo SNA (1993), “Sản phẩm còn được gọi là hàng hóa và dịch vụ, là kết quả hoạt động sản xuất của các đơn vị thể chế, chúng được trao đổi và sử dụng cho các mục đích khác nhau, làm đầu vào cho các hoạt động sản xuất các hàng hóa, dịch vụ khác, làm sử dụng cuối cùng hoặc để đầu tư”.
Hệ thống ngành sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý luồng sản phẩm, phục vụ cho việc phân tích thống kê kinh tế. Sự hình thành của Hệ thống ngành sản phẩm vii Theo CPC (2015), Hệ thống ngành sản phẩm trung tâm (CPC- Central Product Classification) đƣợc biết đến lần đầu tiên năm 1970, khi mà có đề xuất phân loại sản phẩm, dịch vụ từ Hệ thống ngành kinh tế quốc tế. Các phiên bản CPC tiếp tục đƣợc hoàn thiện phù hợp với các hệ thốngngành kinh tế khác và các phân ngành khác trên thế giới. Một sốhệ thống phân ngành sản phẩm trên thế giới CPC cung cấp một khung tham chiếu cho tất cả các phân loại sản phẩm trong Hệ thống ngành sản phẩm kinh tế quốc tế do UN đƣa ra; CPA(Classification of Products by Activity), Phânngành sản phẩm theo hoạt động của Cộng đồng chung Châu Âu; NAPCS (The North American Product Classification System), Hệ thốngngành sản phẩm của khu vực bắc Mỹ;.
Ngoài các danh mục ngành sản phẩm trên còn có một số danh mục sản phẩm để phục vụ cho các mục đích khác nhƣ: Danh mục Hệ thống điều hòa HS (Harmonized Commodity Description and Coding System) do Tổ chức Hải quan Thế giới ban hành để phân loại hành hóa trong thƣơng mại quốc tế; Danh mục phân loại thƣơng mại quốc tế SITC (Standard International Trade Classification) do Tổ chức Thống kê Liên hiệp quốc ban hành nhằm phục vụ cho việc phân tích thƣơng mại quốc tế. Hệ thốngngành sản phẩm của Việt Nam Việt Nam lựa chọn xây dựng hệ thống ngành sản phẩm theo nguyên tắc Phân ngành sản phẩm hoạt động của cộng đồng chung châu Âu (CPA) VCPA 2010 của Việt Nam đƣợc phân thành 7 cấp: cấp 1 có 21 ngành;cấp 2có 88 ngành, cấp 3 có 234 ngành, cấp 4 có 411 ngành, cấp 5 có 587 ngành; cấp 6 có 1406 ngành; cấp 7 có 2898 ngành. VCPA 2018 kế thừa VCPA 2010 và chi tiết sản phẩm hơn từ ngành cấp 4 có 436 ngành; cấp 5 có 660 ngành; cấp 6 có1655 ngành; cấp 7 có 3574 ngành. Tác động của một ngành kinh tế đến tổng sản phẩm trong nƣớc Tính toán GDP theo phƣơng pháp sản xuất mà Việt Nam đang sử dụng cho thấy, nguyên nhân tăng giảm GDP phụ thuộc vào giá trị tăng thêm của các ngành trong nền kinh tế, do thuế không tạo ra tăng trƣởng.
Phân tích tác động đến giá trị tăng thêm đƣợc bắt nguồn từ lý thuyết tổng quát của Keynes: Khi cầu thay đổi sẽ kích thích thay đổi từ phía cung. Vậy phía cung tăng lên một lƣợng là bao nhiêu? Để trả lời cho câu hỏi này, Luận văn lƣợng hóa tác động đến giá trị tăng thêm (từ bên cung) dựa trên ma trận hệ số chi phí trung gian.1 Tác động của một ngành đến giá trị tăng thêm của chính ngành đó Tác động của một ngành đến giá trị tăng thêm của ngành đó đƣợc xem xét dựa trên thay đổi chi phítrung gian của ngành đó. Khi sử dụng cuối cùng thay đổi làm cho chi phí trung gian phục vụ sản xuất của một ngành thay đổi, thay đổi này tác động làm cho giá trị tăng thêm của ngành đó thay đổi theo.2 Tác động do thay đổi sản xuất của một ngành làm thay đổi giá trị tăng thêm của các ngành khác Tác động do thay đổi sản xuất của một ngành làm thay đổi giá trị tăng thêm của các ngành khác đƣợc xem xét dựa trên những thay đổi trong sản xuất của một ngành làm thay đổi chi phí trung gian của các ngành khác, dẫn đến thay đổi giá trị tăng thêm của các ngành khác.