Tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến giá cổ phiếu tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính minh bạch thông tin giá cổ phiếu tại Việt Nam.

Trường đại học

Đại Học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2018

171
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của luận án

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1.6. Khung nghiên cứu của luận án

1.7. Đóng góp của luận án

1.8. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN VÀ TÍNH THÔNG TIN CỦA GIÁ CỔ PHIẾU

1.1. Tổng quan về tính thông tin của giá cổ phiếu

1.1.1. Khái niệm về tính thông tin của giá cổ phiếu

1.1.2. Ý nghĩa của tính thông tin của giá cổ phiếu

1.1.3. Đo lường tính thông tin của giá cổ phiếu

1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tính thông tin của giá cổ phiếu

1.2. Tổng quan về hành vi điều chỉnh lợi nhuận

1.2.1. Định nghĩa về hành vi điều chỉnh lợi nhuận

1.2.2. Động cơ của hành vi điều chỉnh lợi nhuận

1.2.3. Các lý thuyết giải thích cho hành vi điều chỉnh lợi nhuận

1.2.4. Cơ sở của hành vi điều chỉnh lợi nhuận

1.2.5. Các khuynh hướng và kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận

1.2.6. Các mô hình biến dồn tích đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận

1.2.7. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu

1.3. Kết luận chung về các công trình nghiên cứu thực nghiệm về tính thông tin của giá cổ phiếu & khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.1. Giả thuyết về ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu

2.2. Mô hình nghiên cứu

2.3. Đo lường các biến nghiên cứu

2.3.1. Tính thông tin của giá cổ phiếu

2.3.2. Hành vi điều chỉnh lợi nhuận

2.3.3. Biến kiểm soát

2.4. Dữ liệu nghiên cứu

2.5. Xử lý dữ liệu nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả đo lường tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007-2014

3.1.1. Đặc trưng về tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007-2014

3.1.2. Phân tích biến động tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007-2014

3.2. Kết quả đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007-2014

3.2.1. Đặc trưng về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007-2014

3.2.2. Phân tích biến động hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007 - 2014

3.3. Kiểm định ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007 - 2014

3.3.1. Thống kê mô tả các biến nghiên cứu của mô hình kiểm định ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu

3.3.2. Ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu

3.3.3. Kiểm định sự bền vững của kết quả nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC BÊN LIÊN QUAN

4.1. Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước

4.2. Khuyến nghị đối với nhà quản trị công ty

4.3. Khuyến nghị đối với nhà đầu tư

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tác động của nó đến giá cổ phiếu là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu tài chính. Giá cổ phiếu không chỉ phản ánh giá trị thực của công ty mà còn chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm cả thông tin vĩ mô và thông tin đặc thù công ty. Theo các nhà kinh tế học tài chính, việc công bố thông tin mới liên quan đến giá trị công ty có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự biến động của giá cổ phiếu. Tuy nhiên, trong bối cảnh các nước đang phát triển như Việt Nam, hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể làm giảm tính minh bạch của thông tin tài chính, từ đó ảnh hưởng đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Do đó, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuậntính thông tin của giá cổ phiếu là cần thiết để hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam.

II. Tổng quan về hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận được định nghĩa là việc nhà quản lý sử dụng các đánh giá chủ quan trong quá trình lập báo cáo tài chính để thay đổi thông tin tài chính nhằm tạo ra những đánh giá không chính xác về hiệu quả kinh tế. Các động cơ của hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể bao gồm áp lực từ cổ đông, mong muốn đạt được các chỉ tiêu tài chính hoặc để tránh các hình phạt từ cơ quan quản lý. Nghiên cứu cho thấy rằng hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể ảnh hưởng đến tính thông tin của giá cổ phiếu theo nhiều cách khác nhau. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng khi hành vi điều chỉnh lợi nhuận gia tăng, tính thông tin của giá cổ phiếu có thể giảm do thông tin không chính xác được công bố. Ngược lại, trong một số trường hợp, hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể làm tăng tính thông tin của giá cổ phiếu khi thông tin nội bộ được sử dụng để điều chỉnh giá trị công ty một cách chính xác hơn.

III. Tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến giá cổ phiếu

Tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến giá cổ phiếu có thể được phân tích qua hai quan điểm chính. Quan điểm đầu tiên cho rằng hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể làm tăng tính thông tin của giá cổ phiếu khi thông tin nội bộ được sử dụng một cách hiệu quả. Điều này có thể dẫn đến việc các nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định đầu tư chính xác hơn. Tuy nhiên, quan điểm thứ hai lại cho rằng hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể làm giảm tính thông tin của giá cổ phiếu do thông tin không chính xác và thiếu minh bạch. Điều này có thể dẫn đến việc các nhà đầu tư gặp khó khăn trong việc đánh giá đúng giá trị thực của công ty. Do đó, việc hiểu rõ tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến giá cổ phiếu là rất quan trọng trong việc xây dựng các chính sách quản lý và đầu tư hiệu quả.

IV. Khuyến nghị cho các bên liên quan

Dựa trên những phát hiện từ nghiên cứu, có một số khuyến nghị cho các bên liên quan. Đối với cơ quan quản lý nhà nước, cần thiết lập các quy định chặt chẽ hơn về công bố thông tin tài chính để giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận không chính đáng. Đối với các nhà quản trị công ty, việc duy trì tính minh bạch trong báo cáo tài chính là rất quan trọng để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và tăng cường tính thông tin của giá cổ phiếu. Cuối cùng, các nhà đầu tư nên chú ý đến các dấu hiệu của hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các báo cáo tài chính để đưa ra quyết định đầu tư chính xác hơn. Những khuyến nghị này không chỉ giúp cải thiện tính thông tin của giá cổ phiếu mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN VÀ TÍNH THÔNG TIN CỦA GIÁ CỔ PHIẾU Chương này hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến tính thông tin của giá cổ phiếu, hành vi điều chỉnh lợi nhuận và mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu, và được cấu trúc theo bốn phần. Phần một đưa ra các vấn đề chung về tính thông tin của giá cổ phiếu và các nhân tố ảnh hưởng đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Phần hai trình bày cơ sở lý thuyết về hành vi điều chỉnh lợi nhuận bao gồm định nghĩa về hành vi điều chỉnh lợi nhuận, giới thiệu các kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận và tổng hợp các mô hình nhận diện điều chỉnh lợi nhuận được vận dụng trong các nghiên cứu điển hình trước đây. Phần ba lược khảo các nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu.

Phần bốn đưa ra kết luận chung về các nghiên cứu về tính thông tin của giá cổ phiếu làm căn cứ xây dựng giả thuyết nghiên cứu về ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Tổng quan về tính thông tin của giá cổ phiếu 1. Khái niệm về tính thông tin của giá cổ phiếu Chức năng của thị trường chứng khoán là kênh dẫn vốn từ nhà đầu tư đến doanh nghiệp. Một thị trường chứng khoán được xem là hiệu quả chức năng nếu nó đảm bảo các nguồn vốn đầu tư được đưa đến nơi sử dụng có hiệu quả nhất Tobin (1984), từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế.

Hiệu quả chức năng của thị trường chứng khoán lại phụ thuộc phần lớn vào hiệu quả thông tin của thị trường, theo đó, giá cổ phiếu phải phản ánh các thông tin liên quan đến giá trị của doanh nghiệp (Được gọi là tính thông tin của giá cổ phiếu - Stock price informativeness). Quá trình thu thập, phân tích thông tin đặc thù công ty có liên quan đến giá 12 trị và giao dịch cổ phiếu của công ty dựa trên các thông tin đó được gọi là quá trình chuyển hoá thông tin vào giá cổ phiếu, do vậy làm cho giá cổ phiếu mang tính thông tin (Rangan, 1998; Morck, Yeung & Yu, 2000). Trong một thị trường hiệu quả, giá cổ phiếu sẽ chứa đựng tất cả các thông tin có sẵn và phản ánh giá trị nội tại của doanh nghiệp. Tuy nhiên, giá cổ phiếu có thể không phản ánh hết tất cả các thông tin có sẵn bởi vì hạn chế về chi phí thông tin (Grossman & Stiglitz, 1980) và sự hạn chế của giao dịch (Shleifer & Vishiny, 1997).

Do đó, mức độ về tính thông tin của giá cổ phiếu có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp và có hàm ý quan trọng đối với cả nhà quản trị và nhà đầu tư. Giá cổ phiếu có tính thông tin cao có thể giảm rủi ro thông tin cho những người tham gia giao dịch trên thị trường và dẫn đến chi phí vốn của công ty sẽ thấp hơn (Fernandes & Ferreira, 2009). Các nhà kinh tế học chứng minh rằng giá cổ phiếu thay đổi khi có những thông tin mới liên quan đến giá trị công ty được công bố đến thị trường (Fama, 1965; Fama & Blumme, 1966). Giá cổ phiếu phản ánh cả thông tin vĩ mô (thông tin về tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát.) và thông tin đặc thù công ty (thông tin về tình hình kinh doanh, quản trị của một công ty).

Thông tin vĩ mô ảnh hưởng đến toàn bộ các cổ phiếu trên thị trường, trong khi đó thông tin đặc thù công ty chỉ ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu công ty. Các bằng chứng thực nghiệm đều khẳng định các giao dịch dựa trên thông tin thúc đẩy sự biến động của giá cổ phiếu (French & Roll, 1986). Tính thông tin của giá cổ phiếu được hiểu là lượng thông tin đặc thù công ty liên quan đến giá trị được chứa đựng trong giá cổ phiếu. Có nghĩa là khi giá cổ phiếu của công ty chứa đựng càng nhiều thông tin đặc thù công ty thì tính thông tin của giá cổ phiếu càng cao.

Ý nghĩa của tính thông tin của giá cổ phiếu Một chức năng quan trọng của thị trường tài chính là đảm bảo việc phân bổ vốn trong nền kinh tế một cách hiệu quả (hiệu quả chức năng), theo đó các dòng vốn đầu tư phải được hướng đến những nơi sử dụng hiệu quả trong nền kinh tế, và 13 do vậy đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế (Tobin, 1984; Levine & Zervos, 1998). Chức năng này chỉ có thể thực hiện tốt khi giá cổ phiếu phản ánh chính xác và kịp thời những thông tin liên quan đến giá trị của công ty. Nói cách khác, giá cổ phiếu phải mang tính thông tin cao (hiệu quả thông tin). Thật vậy, minh chứng cho quan điểm này, các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng vốn và các nguồn lực khác được phân bổ hiệu quả hơn trong nền kinh tế khi giá cổ phiếu mang tính thông tin cao (Morck, Yeng & Yu, 2000; Durnev, Morck & Yeung, 2004).

Tính thông tin của giá cổ phiếu là chỉ dấu giúp các nhà quản trị nhận biết phản ứng của thị trường về những quyết định của nhà quản trị, do vậy giúp họ đưa ra những quyết định quản trị tốt hơn nhằm hướng đến làm tăng giá trị công ty (Durnev, Morck & Yeung, 2004; Chen, Goldstein & Jiang, 2007). Ngoài ra, tính thông tin cao của giá cổ phiếu cũng góp phần làm giảm rủi ro thông tin cho những người tham gia giao dịch trên thị trường và dẫn đến chi phí vốn cổ phần của công ty sẽ thấp hơn (Fernandes & Ferreira, 2009). Do vậy, hướng đến gia tăng tính thông tin của giá cổ phiếu là một trong những quan tâm lớn của người quản trị công ty. Tính thông tin của giá cổ phiếu cho phép nhà đầu tư trên thị trường nhận diện chất lượng các quyết định của những nhà quản trị công ty và lựa chọn công ty cho mục đích đầu tư (Durnev, Morck & Yeung, 2004; Chen, Goldstein & Jiang, 2007), từ đó xây dựng và quản lý có hiệu quả danh mục đầu tư.

Do vậy, quyết định đầu tư cổ phiếu chỉ trở nên hiệu quả hơn khi giá cổ phiếu mang tính thông tin cao. Đo lường tính thông tin của giá cổ phiếu Tính thông tin của giá cổ phiếu là khái niệm được sử dụng để phản ánh lượng thông tin đặc thù công ty liên quan đến giá trị được chứa đựng trong giá cổ phiếu (Wurgler, 2000; Chen, Goldstein & Jiang, 2007; Ferreira, Ferreira & Raposo, 2011). Tính thông tin của giá cổ phiếu cao hàm ý rằng giá cổ phiếu chứa đựng nhiều thông tin đặc thù công ty hơn và ít thông tin chung của thị trường (Roll, 1988). Tính thông tin của giá cổ phiếu là một biến không thể quan sát trực tiếp mà phải được đo lường gián tiếp thông qua mô hình thị trường.

Nhìn chung, có thể đo 14 lường tính thông tin của giá cổ phiếu bằng các phương pháp khác nhau được tổng hợp từ các nghiên cứu điển hình trước đây. Thứ nhất, dựa trên cách tiếp cận của Roll (1988), Morck, Yeung & Yu (2000) và Jin & Myers (2006), tính thông tin của giá cổ phiếu của mỗi công ty được đo lường cho mỗi năm dựa trên giá trị R2 từ hồi quy mô hình thị trường sau: ri,t = α + βrM,t + εi,t (1) Trong đó: ri,t : Tỷ suất lợi tức của cổ phiếu i tại tuần t của mỗi năm. rM,t : Tỷ suất lợi tức của danh mục thị trường tại tuần t của mỗi năm. Giá trị R2 từ hồi quy mô hình (1) là giá trị đo lường mức độ biến động của tỷ suất lợi tức cổ phiếu i (ri) được gây ra bởi biến động chung của thị trường (rM) Roll (1988).

Một giá trị R2 thấp, hay giá trị (1-R2) cao, nghĩa là biến động tỷ suất lợi tức của cổ phiếu công ty được giải thích phần lớn bởi thông tin đặc thù của công ty và ít chịu ảnh hưởng bởi thông tin chung của thị trường (Morck, Yeung & Yu, 2000; Jin & Myers, 2006). Nói cách khác, R2 thấp hàm ý giá cổ phiếu của công ty mang tính thông tin cao. Bởi vì giá trị R2 bị giới hạn giữa 0 và 1, R2 được biến đổi logarit để đo lường tính thông tin của giá cổ phiếu như sau: Non_syni = log((1- R2)/R2) (2) Non_syni : tính thông tin của giá cổ phiếu của công ty i Một giá trị cao của Non_syn thể hiện giá cổ phiếu mang tính thông tin cao và ngược lại. Thứ hai, một đo lường tiếp theo của tính thông tin giá cổ phiếu được sử dụng trong một số nghiên cứu trước đây trên thế giới là xác suất giao dịch dựa trên thông tin PIN (probability of informed trading) (Easley, Hvidkjaer & O’Hara, 2002; Chen, Goldstein & Jiang, 2007; Brockman & Yan, 2009; Ferreira, Ferreira & Raposo, 2011).

Đo lường này dựa trên quan điểm khi các yếu tố khác không đổi, vì thông tin đặc thù công ty được chuyển hoá vào giá cổ phiếu thông qua các giao dịch dựa trên thông tin nên khối lượng giao dịch của các nhà đầu tư có thông tin càng nhiều, càng nhiều thông tin đặc thù công ty được chuyển hóa vào giá cổ phiếu. Hệ quả, tính 15 thông tin của giá cổ phiếu càng cao. Minh chứng từ các nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ cho quan điểm PIN phản ánh lượng thông tin đặc thù công ty trong giá cổ phiếu. Ví dụ, Easley, Hvidkjaer & O’Hara (2002) tìm thấy cổ phiếu có PIN cao hơn có lợi tức cao hơn, nhất quán với quan điểm giá cổ phiếu phản ánh rủi ro thông tin đặc thù được phản ánh bởi PIN.

Chen, Goldstein & Jiang (2007) cho rằng khoản đầu tư công ty nhạy cảm hơn với giá đối với cổ phiếu có PIN cao, nhất quán với việc giá của các cổ phiếu này có tính thông tin cao hơn. Các nghiên cứu khác sử dụng PIN để đo lường tính thông tin của giá cổ phiếu bao gồm Brockman & Yan (2009), Ferreira, Ferreira & Raposo (2011). Các nhân tố ảnh hưởng đến tính thông tin của giá cổ phiếu Vì ý nghĩa kinh tế quan trọng của tính thông tin của giá cổ phiếu trên cả hai phương diện học thuật và thực tiễn, nghiên cứu về tính thông tin của giá cổ phiếu đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới trên nhiều khía cạnh khác nhau ở cả góc độ vĩ mô cũng như góc độ công ty.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến giá cổ phiếu tại Việt Nam" phân tích mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết và sự biến động của giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng việc điều chỉnh lợi nhuận không chỉ ảnh hưởng đến sự minh bạch tài chính mà còn có thể dẫn đến những quyết định đầu tư sai lầm từ phía nhà đầu tư. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức mà các công ty có thể tác động đến giá cổ phiếu thông qua các chiến lược điều chỉnh lợi nhuận, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Nghiên cứu tác động của nhân tố quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động tại các công ty thuộc lĩnh vực sản xuất niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, nơi phân tích vai trò của quản trị công ty trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh nghiên cứu vận dụng mô hình cảnh báo sớm trong cảnh báo khủng hoảng tiền tệ tại Việt Nam cũng sẽ cung cấp cho bạn những kiến thức bổ ích về quản lý rủi ro tài chính. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, để thấy được mối liên hệ giữa các yếu tố tài chính và sự phát triển kinh tế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về bối cảnh tài chính và đầu tư tại Việt Nam.