CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, MÔ HÌNH VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU Việc tổng quan nghiên cứu hướng tới mục tiêu xem xét các tác giả/công trình khoa học nào đã nghiên cứu, và nghiên cứu như thế nào về hoạt động đầu tư phát triển và chi phí không chính thức tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến các nội dung liên quan đầu tư, đầu tư phát triển trong doanh nghiệp, tác động của đầu tư đối với hiệu quả doanh nghiệp, tham nhũng và chi phí không chính thức trong doanh nghiệp và ảnh hưởng của nó đối với hiệu quả doanh nghiệp. Các kết quả nghiên cứu đó được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như giáo trình, sách chuyên khảo, sách tham khảo, các công trình nghiên cứu khoa học như luận án, luận văn, đề tài NCKH các cấp, các bài báo khoa học, tham luận chuyên đề, hội thảo, hội nghị. Đề tài sẽ tập trung đi sâu phân tích các kết quả đã nghiên cứu theo cách tiếp cận thể hiện thành 3 nhóm như sau: - Tổng quan nghiên cứu về đầu tư phát triển và tác động của nó đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp - Tổng quan nghiên cứu về chi phí không chính thức và tác động của nó kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp - Tổng quan nghiên cứu về phương pháp sử dụng mô hình phân tích tác động giữa các biến trong ngắn hạn và dài hạn Cách nghiên cứu tổng quan được thể hiện bằng sơ đồ tổng quát như sau: 11 1.
Đầu tư phát triển nói chung 1. Đầu tư tài sản cố định 1. Đầu tư phát triển tác động Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 1. Đầu tư nguồn nhân lực 1.
Chi phí không chính thức tác động Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 1. Đầu tư phát triển và chi phí không chính thức tác động Kết quả HĐSXKD 1. Phương pháp nghiên cứu mối quan hệ tác động giữa các biến tách biệt trong ngắn hạn và dài hạn.1: Sơ đồ cách thức tổng quan nghiên cứu của luận án Nguồn: Tác giả tự tổng hợp Từ cách tiếp cận này sẽ cho thấy có “khoảng trống nghiên cứu” trong mảng chủ đề tác động của đầu tư phát triển và chi phí không chính thức đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó giúp tác giả định hướng và là cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu và tìm ra phương pháp nghiên cứu nhằm chứng minh và kiểm định cho mô hình và giả thuyết nghiên cứu đã xác định.
Các nghiên cứu về đầu tư phát triển và tác động của nó đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do nội dung của hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp bao gồm các hoạt động đầu tư cụ thể: đầu tư tài sản cố định, đầu tư nguồn nhân lực, đầu tư R&D, nên việc tổng quan nghiên cứu phần này sẽ đi theo 4 hướng tiếp cận: - Tổng quan nghiên cứu về đầu tư phát triển nói chung tác động kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp - Tổng quan nghiên cứu về đầu tư tài sản cố định tác động kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp - Tổng quan nghiên cứu về đầu tư nguồn nhân lực tác động kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp - Tổng quan nghiên cứu về đầu tư R&D tác động kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Mục tiêu của tổng quan nghiên cứu phần này chính là tìm ra mối liên hệ tác động của đầu tư phát triển với kết quả sản xuất kinh doanh, xem ở các nghiên cứu trước có nghiên cứu hay không? Tác động như thế nào? Có phân biệt tác động trong ngắn hạn và dài hạn? Nếu có thì tác động trong ngắn hạn và dài hạn ra sao? 1. Đầu tư phát triển tác động kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các nghiên cứu trên thế giới sử dụng thuật ngữ đầu tư (investment) cho tất cả các loại đầu tư. Riêng ở Việt Nam có thêm thuật ngữ đầu tư phát triển, nhằm phân biệt với các loại hình đầu tư dịch chuyển khác. Đã có nhiều nghiên cứu về hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
Nghiên cứu “Hiệu quả đầu tư và các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước”của tác giả Từ Quang Phương (2003) là một trong những nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam chuyên sâu phân tích về vấn đề này. Nghiên cứu đã làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư phát triển và hiệu quả của đầu tư phát triển, đặc biệt đối với doanh nghiệp Nhà nước. Đầu tư phát triển có vai trò to lớn quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nó bao gồm các nội dung: Đầu tư tái tạo tài sản cố định; đầu tư nghiên cứu triển khai khoa học và công nghệ; đầu tư phát triển nguồn nhân lực; đầu tư bổ sung hàng tồn trữ (tài sản lưu động); đầu tư vào 13 các tài sản vô hình khác (ví dụ đầu tư mua bản quyền, phát minh sáng chế, đầu tư cho hoạt động quảng cáo.) và đầu tư ra ngoài doanh nghiệp.
Nghiên cứu này là nghiên cứu đầu tiên và cũng là cơ sở, tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo ở Việt Nam, các nghiên cứu này đều tuân theo lý thuyết về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp của Từ Quang Phương. Các nghiên cứu trên thế giới xem xét đầu tư trên doanh nghiệp ở các góc độ khác nhau: Tác giả Kemuma (2014) trong nghiên cứu Ảnh hưởng của quyết định đầu tư đến hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán Nairobi (Effect of investment decision on the performance of firm listed in the Nairobi securities exchange) xem đầu tư của công ty bao gồm việc mở rộng, mua lại, hiện đại hóa và thay thế các tài sản dài hạn; Bán bộ phận kinh doanh cũng là quyết định đầu tư; Quyết định như sự thay đổi trong phương pháp phân phối bán hàng, hay một chiến dịch quảng cáo, một chương trình nghiên cứu và phát triển có ý nghĩa lâu dài cho các chi tiêu và lợi ích của công ty cũng cần được đánh giá là quyết định đầu tư. Grazzi và cộng sự (2013) trong nghiên cứu Động thái đầu tư và kết quả hoạt động doanh nghiệp: Bằng chứng so sánh từ các ngành sản xuất (Dynamics of investment and firm performance: Comparative evidence from manufacturing industries) xem đầu tư là thay thế máy móc thiết bị lạc hậu bằng thiết bị hiện đại (Đầu tư cấp độ doanh nghiệp không liên quan đến các hoạt động sửa chữa thường xuyên hàng năm và bảo trì). Các nghiên cứu chủ yếu tập trung làm rõ tác động của đầu tư đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Đầu tư ảnh hưởng tới thành quả, hiệu suất của doanh nghiệp trên nhiều khía cạnh, ví dụ năng suất và tốc độ tăng trưởng (Power, 1998; Huggett and Ospina, 2001; Nilsen, 2009; Shima, 2010), tăng trưởng việc làm, tốc độ tăng trưởng doanh số bán hàng và các yếu tố khác của sản xuất (Sakellaris, 2004; Nilsen, 2009).
Các nghiên cứu này thuộc cả 2 nhóm định tính và định lượng. Đối với các nghiên cứu định lượng, biến đầu tư và biến kết quả sản xuất kinh doanh đã được đưa vào các mô hình kinh tế lượng để phân tích chiều và mức độ ảnh hưởng. Nghiên cứu Đầu tư và giá trị công ty: một phân tích dữ liệu bằng cách sử dụng dữ liệu bảng (Investment and firm value: an analysis using panel data) của nhóm tác giả Brioa và cộng sự (2003) đã phân tích mối quan hệ giữa đầu tư và giá trị công ty (giá trị ở đây được hiểu là giá trị trên thị trường vốn). Các kết quả của mô hình với việc sử dụng dữ liệu bảng cho thấy mối quan hệ giữa hai biến đó là trực tiếp nhưng tỉ lệ nghịch, cường độ của mối quan hệ này phụ thuộc vào loại công ty xem xét.
Ngoài ra, các bằng chứng 14 thực nghiệm cho thấy rằng việc tạo ra giá trị vẫn tồn tại trong dài hạn, mặc dù không có sự phân biệt được tìm thấy giữa các hãng có hoặc không công bố khoản đầu tư (hoặc thoái vốn) của họ. Nghiên cứu Ảnh hưởng của quyết định đầu tư đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp niêm yết tại Sở giao dịch Nairobi (Effect of investment decision on the performance of firm listed in the Nairobi securities exchange) của Kemuma (2014), phân tích nhiều nội dung của đầu tư trong doanh nghiệp. Một quyết định đầu tư sai có thể dẫn đến một công ty làm ăn thua lỗ và do đó đóng cửa. Mô hình nghiên cứu mà tác giả đưa ra với biến phụ thuộc là Hiệu quả tài chính (đo bằng ROA) và các biến độc lập là Quyết định đầu tư (đo bằng số tiền đầu tư), Đòn bẩy tài chính của (đo bằng tỷ lệ nợ/vốn cổ phần) và Thanh khoản (đo bằng tỷ lệ nợ ngắn hạn/ tài sản hiện có).
Kết quả cho thấy rằng số lượng các đầu tư mới quyết định đáng kể hiệu suất tài chính của công ty, các doanh nghiệp sáng tạo hơn tương ứng với việc giới thiệu các sản phẩm mới, dịch vụ, các chi nhánh và các công nghệ có khả năng trải nghiệm khả năng sinh lời cao hơn so với những người kém sáng tạo. Nghiên cứu Quyết định đầu tư với việc tạo ra giá trị (Investment dicision and value creation) của Soumaya (2015) viết về đầu tư sẽ tác động thế nào tới giá trị doanh nghiệp. Trong một quyết định liên quan đến đầu tư, một doanh nghiệp thường phải đối mặt với sự lựa chọn giữa tăng trưởng nội bộ và bên ngoài. Tăng trưởng nội bộ tiến hành bằng cách tạo ra các tài sản bổ sung, ví dụ thông qua việc mua các thiết bị mới, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D).; còn tăng trưởng bên ngoài là một phương thức phát triển dựa trên sáp nhập tự nguyện hay bị ép buộc giữa các doanh nghiệp.
Kết quả cho thấy các mối quan hệ giữa đầu tư và giá trị công ty là trực tiếp và tích cực. Một nghiên cứu đo tác động cùng lúc của nhiều mảng đầu tư trong doanh nghiệp tác động tới kết quả của doanh nghiệp (được đo bằng doanh thu bán hàng), bao gồm cả đầu tư vật chất (đo bằng tổng tài sản cố định), đầu tư nhân lực (đo bằng chi phí lao động) và đầu tư R&D (đo bằng chi phí R&D). Đặc biệt nghiên cứu dựa trên lý thuyết nền là lý thuyết quản lý dựa trên nguồn lực Resourse Based View.