CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM 1.TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. Khái niệm, thực trạng biến đổi khí hậu 1. Khái niệm Biến đổi khí hậu là chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm của toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Sự thay đỏi của hệ thống khí quyển, thủy quyển, sinh quyển,… hiện tại và trong tương lai bởi những nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo.
Đây là một vấn đề thực sự đáng lo ngại, không những đe dọa đến tính mạnh của con người mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Để nhận thức được vấn đề quan trọng này với những thực trạng, nguyên nhân, hậu quả cần phải đi vào hành động thực tiễn. Biến đổi khí hậu trước hết là sự nóng lên và nước biển dâng là thách thức của toàn nhân loại trong thế kỉ XXI. Thiên tai và các hiện tượng cực đoan cùng với nhiệt độ và mực nước biển toàn cầu đang liên tục gia tăng là mối lo ngại tại các nước trên thế giới.
Theo công ước chung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu UNFCCC, biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển do tác động trực tiếp hay gián tiếp của các hoạt động con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu, bên cạnh sự biến động của khí hậu tự nhiên, đã được quan sát trong một thời kì nhất định. Có thể hiểu tóm tắt, biến đổi khí hậu là biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình nhiều năm Trong chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu tháng 7/2008 nêu ra định nghĩa về biến đổi khí hậu như sau: biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hâu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài thường là vài thập kỉ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất Theo Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) năm 2007 định nghĩa: biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, 8 được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì biến đổi khí hậu là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu.
Biến đổi khí hậu hiện đại được nhận biết thông qua sự gia tăng của nhiệt độ trung bình bề mặt Trái Đất, dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu. Biểu hiện của biến đổi khí hậu còn được thể hiện qua sự dâng mực nước biển, hệ quả của sự tăng nhiệt độ toàn cầu. Về cơ bản, các định nghĩa đưa ra đều có một số điểm đồng nhất về thời gian và không gia diễn biến, tác nhân của biến đổi khí hậu. Như vậy, nghiên cứu này dựa trên định nghĩa do ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu đưa ra.
Nguyên nhân của biến đổi khí hậu Tác hại do biến đổi khí hậu gây nên là khá nặng đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu và chủ yếu có do tác động của con người (nguyên nhân chủ quan và một phần nhỏ đến từ nguyên nhân khách quan. Một là, nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người): con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất. (a) Đánh giá khoa học của Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9% các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là từ các hoạt động khác.
(b) Những số liệu về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các lõi băng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và tan băng (khoảng 18.000 năm trước), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ khoảng 180 -200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳ tiền công nghiệp (280ppm).800, hàm lượng khí CO2 bắt đầu tăng lên, 9 vượt con số 300ppm và đạt 379ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO2 tự nhiên trong khoảng 650 nghìn năm qua. Hai là, nguyên nhân khách quan: do tự nhiên bao gồm thay đổi cường độ sáng của Mặt trời, xuất hiện các điểm đen Mặt trời (Sunspots), các hoạt động núi lửa, thay đổi đại dương, thay đổi quỹ đạo quay của trái đất. (a) Thay đổi của các tham số quĩ đạo trái đất: Do trái đất tự quay xung quanh trục của nó và quay quanh mặt trời, theo thời gian, một vài biến thiên theo chu kỳ đã diễn ra. Các thay đổi về chuyển động của trái đất gồm: sự thay đổi của độ lệch tâm có chu kỳ dao động khoảng 96.000 năm; độ nghiêng trục có chu kỳ dao động khoảng 41.000 năm và tuế sai (tiến động) có chu kỳ dao động khoảng từ 19.
Những biến đổi chu kỳ năm của các tham số này làm thay đổi lượng bức xạ mặt trời cung cấp cho hệ thống khí hậu và do đó làm thay đổi khí hậu trái đất. (b) Biến đổi trong phân bố lục địa - biển của bề mặt trái đất: Bề mặt trái đất có thể bị biến dạng qua các thời kỳ địa chất do sự trôi dạt của các lục địa, các quá trình vận động kiến tạo, phun trào của núi lửa,… Sự biến dạng này làm thay đổi phân bố lục địa - đại dương, hình thái bề mặt trái đất, dẫn đến sự biến đổi trong phân bố bức xạ mặt trời trong cân bằng bức xạ và cân bằng nhiệt của mặt đất và trong hoàn lưu chung khí quyển, đại dương. Ngoài ra, các đại dương là một thành phần chính của hệ thống khí hậu, dòng hải lưu vận chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh. Thay đổi trong lưu thông đại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2 vào khí quyển (c) Với sự xuất hiện các Sunspots làm cho cường độ tia bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất thay đổi, nghĩa là năng lượng chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất (Nguồn: NASA) (d) Sự thay đổi cường độ sáng của Mặt trời cũng gây ra sự thay đổi năng lượng chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất.
Cụ thể là từ khi tạo thành Mặt trời đến nay gần 4,5 tỷ năm cường độ sáng của Mặt trời đã tăng lên hơn 30%. 10 (e) Núi lửa phun trào - Khi một ngọn núi lửa phun trào sẽ phát thải vào khí quyển một lượng cực kỳ lớn khối lượng SO2, hơi nước, bụi và tro vào bầu khí quyển. Khối lượng lớn khí và tro có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong nhiều năm. Các hạt nhỏ được gọi là các sol khí được phun ra bởi núi lửa, các sol khí phản chiếu lại bức xạ (năng lượng) mặt trời trở lại vào không gian vì vậy chúng có tác dụng làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt trái đất.
(f) Đại dương ngày nay - Các đại dương là một thành phần chính của hệ thống khí hậu. Dòng hải lưu di chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh. Thay đổi trong lưu thông đại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2 vào trong khí quyển. (g) Nước biển dâng: Theo Báo cáo đánh giá lần thứ tư của Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), sự nóng lên của hệ thống khí hậu đã rõ ràng được minh chứng thông qua số liệu quan trắc ghi nhận sự tăng lên của nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước biển trung bình toàn cầu, sự tan chảy nhanh của lớp tuyết phủ và băng, làm tăng mực nước biển trung bình toàn cầu.
Các chỉ tiêu đo lường biến đổi khí hậu 1. Nhiệt độ (°C) Nhiệt độ có thể coi là yếu tố quan trọng gây lên biến đổi khí hậu trên toàn cầu. Khi nền nhiệt độ trung bình tăng lên khiến cho số ngày đông giá giảm đi ở hầu khắp các vùng vĩ độ trung bình, số ngày cực nóng (10% số ngày nóng nhất) tăng lên và số ngày cực lạnh (10% số ngày đêm lạnh nhất) giảm đi. Các sự kiện mưa lớn tăng lên ở nhiều vùng lục địa từ khoảng sau 1950, thậm chí ở cả những nơi có tổng lượng mưa giảm.
Hạn hán nặng hơn và kéo dài hơn đã được quan trắc thấy trên nhiều vùng khác nhau với phạm vi rộng lớn hơn. Nhiệt độ được đo bằng nhiệt kế và được đo bằng các đơn vị khác nhau và có thể biến đổi bằng các công thức (dựa vào định luật 2 động lực học) : 1 dS = T dE Trong đó: T là nhiệt độ của hệ S là entropy của hệ, là hàm của năng lượng E của hệ Đơn vị đo đại lượng vật lý T90 là kelvin, ký hiệu là K Đơn vị đo đại lượng vật lý t90 là độ Celsius, ký hiệu là °C t90 / °C = T90 / K – 273,15 11 1. Các nhân tố khác: Cacbon đioxit (CO2): CO2 với hàm lượng 0,03% trong khí quyển là nguyên liệu cho quá trình quang hợp để sản xuất năng suất sinh học sơ cấp ở cây xanh. Thông thường, lượng CO2 sản sinh một cách tự nhiên cân bằng với lượng CO2 được sử dụng cho quang hợp.
Hai loại hoạt động của con người là đốt nhiên liệu hoá thạch và phá rừng đã làm cho quá trình trên mất cân bằng, có tác động xấu tới khí hậu toàn cầu.