CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG 1. Chính sách tiền tệ 1. Khái niệm chính sách tiền tệ CSTT là chính sách kinh tế vĩ mô do NHTW (hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ) thực hiện. Thông qua việc tạo dựng một hành lang pháp lý trong hoạt động liên quan đến tiền tệ và việc cung ứng các phương tiện thanh toán cần thiết cho nền kinh tế, Ngân hàng trung ương (hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ) thực hiện điều tiết và kiểm soát tiền tệ để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Chính phủ (Tô Kim Ngọc và Nguyễn Thanh Nhàn, 2019).
Chính sách tiền tệ có tầm quan trọng đối với nền kinh tế và được ví như hệ thống mạch máu trong dòng chảy của thị trường tài chính. Đặc biệt nó là nhân tố quyết định trong việc điều tiết lượng tiền của nền kinh tế. Thông qua CSTT, NHTW thực hiện việc kiểm soát được hệ thống tiền tệ để từ đó thực hiện các mục tiêu đề ra của mình. Mục tiêu của chính sách tiền tệ 1.
Mục tiêu cuối cùng a. Ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát Theo Mishkin (2013), sứ mệnh hàng đầu của CSTT đó là ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát. Nó có tầm quan trọng đặc biệt trong việc định hướng phát triển kinh tế của đất mỗi quốc gia. Giá cả ổn định, lạm phát được kiềm chế sẽ hình thành môi trường đầu tư ổn định, kích thích phát triển kinh tế, phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội.
Giá cả mất cân bằng, lạm phát quá cao hoặc quá thấp gây méo mó thông tin trên thị trường, làm sai lệch các quyết định kinh tế, bất công bằng trong việc phân phối các nguồn lực kinh tế, gây bất ổn định cho xã hội (Mishkin, 2013). Tăng trưởng kinh tế 9 Đối với bất cứ quốc gia nào mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu và được phân phó bởi hầu hết các nguồn lực của quốc gia. Với CSTT, mục tiêu tăng trưởng kinh tế cũng được ưu tiên hàng đầu. Bởi vì CSTT có thể ảnh hưởng tới mức tiêu dùng, hàng hóa và của cải trong xã hội nên nó được xem như đòn bẩy mạnh mẽ nhất giúp mở rộng sản xuất, gia tăng sản lượng, kích thích tăng trưởng kinh tế.
Thông qua mục tiêu tăng trưởng kinh tế, CSTTvừa phải đảm bảo sự gia tăng GDP thực tế, vừa đảm bảo kinh tế phù hợp, cân đối, nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của quốc gia (Mishkin 2013). Hạn chế tối đa tỷ lệ thất nghiệp, tạo công ăn việc làm Hạn chế thất nghiệp tối đa, tạo công ăn việc làm đầy đủ là mục tiêu quan trọng của CSTT. Đối với một quốc gia, thất nghiệp là nỗi ám ảnh khó nhằn nhất bởi nó gây ra hàng loạt những vấn đề của xã hội như tệ nạn xã hội, mất cân bằng trong phân bổ nguồn lực xã hội. Bởi vậy giảm tỷ lệ thất nghiệp góp phần thúc đẩy sự thịnh vượng của xã hội (Mishkin, 2013).
Đặc biệt, khi thất nghiệp gia tăng, các khoản trợ cấp thất nghiệp cũng gia tăng làm cơ cấu trong chi tiêu ngân sách nhà nước và có thể gây mất cân đối ngân sách, tác động trực tiếp đến luồng tiền phân phối trong xã hội. Tỷ lệ thất nghiệp cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách tiền tệ, do vậy nó cũng được xếp là nhiệm vụ hàng đầu của chính sách tiền tệ quốc gia. Mục tiêu trung gian Để đạt được mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ, các NHTW (hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ) thường đề ra các mục tiêu trung gian. Mục tiêu trung gian có tác động trực tiếp đến mục tiêu cuối cùng của CSTT, chịu tác động gián tiếp bởi các can thiệp tiền tệ và chịu thay đổi mạnh mẽ nhất khi NHTW thay đổi mục tiêu hoạt động của mình.
Tùy theo chính sách của từng thời kỳ mà NHTW sẽ lựa chọn các mục tiêu trung gian khác nhau, tuy nhiên các muc tiêu trung gian phải thỏa mãn các điều kiện sau theo Mishkin (2013): Thứ nhất: Có thể đo lường được: MTTG phải được đo lường chính xác, kịp thời để giúp NHTW điều tiết CSTT ngay khi cần thiết. Bên cạnh đó, MTTG cũng giúp NHTW trong việc cân nhắc lựa chọn chỉ tiêu cụ thể nào trong tổng lượng tiền cung ứng và lãi suất. 10 Thứ hai: Có thể kiểm soát được: Các mục tiêu trung gian của CSTT phải được đặt dưới sự kiểm soát của NHTW, NHTW theo đó có thể điều chỉnh mục tiêu trung gian cho phù hợp với định hướng của CSTT. Thứ ba: có mối liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng: MTTG cần có mối liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng để giúp NHTW dễ dàng liên hệ, hỗ trợ, phối hợp các mục tiêu trong việc thực thi CSTT.
Thông thường, một trong hai mục tiêu trung gian quan trọng được chọn lựa đó là lãi suất thị trường hoặc tổng khối tiền cung ứng. Mục tiêu cung tiền : Hình 1.1: Biến động lãi suất khi theo đuổi mục tiêu cung tiền Nguồn: Tô Kim Ngọc và Nguyễn Thanh Nhàn (2019) Tổng lượng tiền cung ứng bao gồm: Khối tiền M1(tiền tệ trong lưu thông và tiền gửi không kỳ hạn tại NHTM), khối tiền M2 (gồm khối M1 và tiền gửi có kỳ hạn), khối tiền M3 (gồm khối M2 và chứng khoán có tính lỏng cao). Khi lựa chọn tổng lượng tiền cung ứng làm MTTTG (giả sử NHTW kỳ vọng sẽ duy trì lượng tiền cung ứng là MS, lãi suất kỳ vọng i*). Khi mức cầu tiền tệ bất ổn dao động từ MD' đến MD'' thì lãi suất sẽ biến động từ i' đến i''.
Mục tiêu lãi suất Lãi suất là một biến số kinh tế vĩ mô vô cùng quan trọng, nó đóng vai trò như trái 11 tim trong hệ tuần hoàn tài chính của mỗi quốc qua, nó tác động đến cả tổng cung và tổng cầu của thị trường thông qua các quyết định các khoản chi của DN và và cư dân. Bởi vậy rất nhiều quốc gia chọn lựa lãi suất làm mục tiêu trung gian để bình ổn nền kinh tế. Khi theo đuổi mục tiêu lãi suất, NHTW sẽ mức lãi suất kỳ vọng (lãi suất mục tiêu target interest i*), cầu tiền là MD. Khi cầu tiền tệ không ổn định tại MD mà dao động giữa MD' và MD'' (do nhu cầu nắm giữ tiền tệ của công chúng thay đổi), để đạt được mức lãi suất kỳ vọng, NHTW sẽ thay đổi cung tiền từ M' đến M'' để hạn chế sự biến động lãi suất thị trường so với mức lãi suất mục tiêu đã đề ra.
Kết quả của cơ chế này sẽ làm cơ số tiền cung ứng thay đổi (Tô Kim Ngọc và Nguyễn Thanh Nhàn, 2019). Minh họa trên hình 1.2: Biến động cung tiền khi theo đuổi mục tiêu lãi suất Nguồn: Tô Kim Ngọc và Nguyễn Thanh Nhàn (2019) 1. Mục tiêu hoạt động Nếu trên con đường hoàn thành sứ mệnh của CSTT, ta coi mục tiêu cuối cùng là đích đến, coi mục tiêu trung gian là chạm dừng thì mục tiêu hoạt động được coi là điểm xuất phát quan trọng. Mục tiêu hoạt động bao gồm các chỉ tiêu có tác động trực tiếp đến mục tiêu trung gian và qua thay đổi của các chỉ tiêu này, NHTW sẽ thay đổi được xu hướng diễn biến của thị trường, do vậy nó có phản ứng nhanh nhạy với CSTT.
Các chỉ tiêu hoạt động thường được lựa chọn căn cứ vào mục tiêu trung gian là lãi suất thị trường hay tổng lượng tiền ung ứng và thường là một số chỉ tiêu như: tổng 12 dự trữ của các NH trung gian, lãi suất ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng, hoặc lãi suất tín phiếu kho bạc Nhà nước,… 1. Mối quan hệ giữa các mục tiêu Do có nhiều đặc điểm riêng biệt mà đôi khi các mục tiêu của CSTT không thống nhất và hỗ trợ cho nhau, thậm chí còn tương phản lẫn nhau. Mục tiêu kiểm soát lạm phát với bình ổn giá cả trong ngắn hạn có tính tương phản.3: Đường cong Philip ngắn và dài hạn Nguồn: www.org Trong ngắn hạn, đường cong Philip trong có xu hướng dốc xuống chứng tỏ thì lạm phát và thất nghiệp tỷ lệ nghịch với nhau. Điều này đã được chứng minh trong nghiên cứu của nhà kinh tế học người Mỹ William Phillips năm 1960 của nhà kinh tế học người Mỹ, A.
Cụ thể cứ giảm 1% lạm phát thì tỷ lệ thất nghiệp tăng 2%, mặt khác, mức lạm phát quá thấp thì kinh tế dễ rơi vào tình trạng suy thoái. Trong dài hạn, cơ chế thị trường sẽ tự điều chỉnh tỷ lệ thất nghiệp về với tỷ lệ tự nhiên của nó (tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên được cấu thành từ tỷ lệ thất nghiệp tạm thời và tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu) do vậy không có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp. Khái quát về hoạt động tín dụng ngân hàng và tăng trưởng tín dụng 1. Khái niệm hoạt động tín dụng ngân hàng và tăng trưởng tín dụng Tín dụng (credit), xuất phát từ tiếng Latinh là credo – là sự tin tưởng, sự tín nhiệm, được hiểu “là quan hệ chuyển nhượng một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ 13 hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu” (Tô Ngọc Hưng, 2016).
“Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng (TCTD), với các nhà doanh nghiệp và cá nhân (bên đi vay), trong đó các TCTD chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho TCTD khi đến hạn thanh toán” (Tô Ngọc Hưng, 2016). Tăng trưởng tín dụng (Credit Growth) “là sự gia tăng về khối lượng tín dụng mà ngân hàng cấp cho nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định” (Nguyễn Thùy Dương, 2016). TTTD là chỉ tiêu dùng để đo lường tăng trưởng tín dụng và được tính bằng tỷ lệ giữa mức độ tăng dư nợ tín dụng tại kỳ được so sánh với dư nợ tín dụng tại kỳ gốc. Tùy theo mục đích sử dụng mà tốc độ tăng trưởng tín dụng có thể được tính so với cùng kỳ năm trước, so với cuối tháng 12 năm trước, hoặc tăng trưởng hàng kỳ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng Hoạt động TDNH bao hàm hoạt động của đa dạng các chủ thể trong nền kinh tế, bởi tầm ảnh hưởng sâu rộng của nó mà các chủ thể, các công cụ và toàn bộ hệ sinh thái nền kinh tế có nhiều tác động đến tốc độ tăng trưởng tín dụng ngân hàng.