CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về rủi ro thanh khoản 1. Khái niệm rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro luôn tiềm ẩn trong ngân hàng, chỉ có ngân hàng phát hiện và kiểm soát được. Rủi ro thanh khoản có thể được phân thành hai dạng: rủi ro thanh khoản tài trợ và rủi ro thanh khoản thị trường (Decker, 2000; Pham, 2019; Gomes & Khan, 2011).
Rủi ro thanh khoản thị trường là rủi ro mà một ngân hàng thất bại trong việc bán tài sản trên thị trường trong một thời gian ngắn với một chi phí thấp. Rủi ro này xảy ra khi một công ty hoặc cá nhân không có đủ tiền mặt để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính (thanh toán các khoản nợ) đúng hạn (Theo Will Kenton, 2021). Tính thanh khoản ở đây đề cập đến mức độ dễ dàng mà một tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt mà không ảnh hưởng tiêu cực tới giá thị trường của nó; rủi ro phát sinh khi một công ty không thể mua hoặc bán một khoản đầu tư để đổi lấy tiền mặt đủ nhanh để trả nợ. Rủi ro thanh khoản tài trợ là rủi ro mà ngân hàng sẽ không thể đáp ứng các nghĩa vụ nợ của mình khi nghĩa vụ nợ phát sinh do không thanh lý được tài sản hoặc thiếu kinh phí.
Hai loại rủi ro này thường xuyên tương tác với nhau thông qua hiệu ứng lây lan trong thị trường tài chính (Diamond & Rận, 2005). Tuy nhien rủi ro thanh khoản trong NHTM được đề cập ở đây là rủi ro thanh khoản tài trợ. Ủy ban Basel định nghĩa thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh. Theo nghĩa này, tính thanh khoản thể hiện các yếu tố định tính về sức mạnh tài chính của ngân hàng.
Theo Ủy ban thanh tra ngân hàng Basel (2003) rủi ro thanh khoản là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ khi đến hạn mà làm ảnh hưởng đén hoạt động kinh doanh hàng ngày và cũng không gây tác động đếntình hình tài chính. Do đó, các ngân hàng phải đối mặt với việc không cung cấp đủ tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản ngay lập tức (không thể chuyển đổi tài sản thành tiền mặt hoặc đi vay để đáp ứng nhu cầu thanh toán). Trong khi đó World Bank cho rằng rủi ro thanh khoản là rủi ro ngân hàng không có 11 khả năng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán của mình khi các khoản nợ đến hạn và việc không thể thực hiện này sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn. Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.
Rủi ro này có thể ảnh hưởng xấu đến cả thu nhập và nguồn vốn của ngân hàng. Do đó, việc quản lý rủi ro thanh khoản trở thành ưu tiên hàng đầu của ban quản lý ngân hàng để đảm bảo có đủ vốn để đáp ứng nhu cầu trong tương lai của khách hàng với chi phí hợp lý (Comptroller of the Currency, 2001). Theo Thông tư số 08/2017/TT-NHNN rủi ro thanh khoản là khi ngân hàng không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, hoặc có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao hơn mức chi phí bình quân của thị trường theo quy định nội bộ để thực hiện nghĩa vụ đó. Điều này có nghĩa, nếu một ngân hàng không có đủ nguồn vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu của thị trường thì sẽ có thể mất khả năng thanh toán.
Nếu rủi ro thanh khoản xảy ra, thì phạm vi ảnh hưởng không chỉ dừng lại ở một ngân hàng đơn lẻ mà còn tác động mạnh mẽ đến các ngân hàng khác và toàn bộ hệ thống tài chính (Nguyễn Bích Thuận và cộng sự, 2021). Rủi ro thanh khoản là một khái niệm dùng chung cho cả nền kinh tế. Ở mỗi lĩnh vực, khái niệm này lại mang một ý nghĩa khác nhau. Đứng dưới góc độ nghiên cứu về rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại, tác giả sử dụng khái niệm “Rủi ro thanh khoản là rủi ro phát sinh khi ngân hàng không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn hoặc có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao hơn mức chi phí bình quân của thị trường theo quy định nội bộ của ngân hàng thương mại”.
Đặc điểm của rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản luôn tiềm ẩn trong các ngân hàng, chỉ có ngân hàng mới phát hiện và kiểm soát được. Những đặc điểm về rủi ro thanh khoản có thể được thể hiện như sau: 12 Thứ nhất, rủi ro thanh khoản gắn liền với hoạt động tài trợ thể hiện nguồn vốn bị cắt giảm ngoài dự kiến: Nguồn tiền gửi bị giảm mạnh do sự suy giảm uy tín của định chế tài chính; nguồn tiền gửi được chuyển sang định chế tài chính khác do thay đổi trong lãi suất tiền gửi; lượng tiền tiết kiệm bị suy giảm đột biến do nhu cầu rút vốn của người gửi tiền. Khó khăn tăng lên trong việc tìm nguồn vốn mới: Khó khăn tăng lên trong nguồn tài trợ từ thị trường tài chính gắn liền với sự suy giảm trong hoạt động của thị trường; và năng lực tìm nguồn tài trợ mới bị giảm đi do uy tín bị giảm đi. Thứ hai, rủi ro thanh khoản gắn liền với đầu tư do không thu hồi được các khoản đầu tư trên thị trường và các khoản cho vay từ sự đổ vỡ trong đầu tư của thị trường và các con nợ bị phá sản; mức tăng đầu tư ngoài dự kiến do một khoản vốn lớn bị rút đi trong khuôn khổ các thỏa thuận cam kết; sự suy giảm tính thanh khoản trên thị trường của các tài sản cầm cố do khả năng chuyển đổi các tài sản cầm cố bị suy giảm, giá cả các tài sản cầm cố bị suy giảm mạnh, và các tài sản cầm cố mất đi tính hợp pháp về cầm cố; Thứ ba, rủi ro thanh khoản gắn liền với các yếu tố khác như là thiếu nguồn vốn đổ vào do khiếm khuyết của công tác sổ sách hoặc các khiếm khuyết khác gây ra, hệ thống máy tính bị trục trặc kỹ thuật và hệ thống thanh toán có vấn đề.
Nguyên nhân phát sinh rủi ro thanh khoản Nhiều nghiên cứu đã tương đối thống nhất khi chỉ ra rằng rủi ro thanh khoản có thể đến từ bên tài sản nợ hoặc tài sản có, hoặc từ hoạt động ngoại bảng của bảng cân đối tài sản của NHTM (Valla và Escorbiac, 2006). Cụ thể như sau: Thứ nhất, Manish Kumar, Ghanshyam Chand Yadav (2013) đã chỉ ra rủi ro thanh khoản của ngân hàng phát sinh từ việc tài trợ tài sản dài hạn bằng nợ ngắn hạn, do đó làm cho các khoản nợ chịu rủi ro tái đầu tư hoặc tái cấp vốn. Ngân hàng huy động và đi vay vốn thời gian ngắn, sau đó cứ tuần hoàn chúng để cho vay thời gian dài hơn. Do đó nhiều ngân hàng phải đối mặt với sự không trùng khớp về kỳ hạn đến hạn giữa tài sản có và tài sản nợ (Nguyễn Văn Tiến, 2010).
Hợp đồng tiền gửi của ngân hàng thường có thời hạn ngắn hơn nhiều so với khoản vay và ban quản lý thanh khoản cần cung cấp một lớp đệm để trang trải các khoản rút tiền gửi dự kiến. Các 13 dòng tiền được đặt trong các nhóm thời gian khác nhau dựa trên hành vi có thể xảy ra trong tương lai của tài sản, nợ phải trả và ngoại bảng. Thứ hai, độ nhạy cảm của tài sản tài chính đối với những thay đổi của lãi suất (Rose, 2001, Nguyễn Văn Tiến, 2010). Khi lãi suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tìm kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất cao hơn.
Những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoãn lại, hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với lãi suất thấp đã thỏa thuận. Như vậy, thay đổi lãi suất ảnh hưởng đồng thời đến luồng tiền gửi cũng như luồng tiền vay, và cuối cùng là đến thanh khoản của ngân hàng. Và ngược lại, khi lãi suất giảm người đi vay có xu hướng tăng khả năng tiếp cận tín dụng mà ngân hàng cung cấp vì lãi suất thấp hơn nguồn vốn bên ngoài thị trường. Những thay đổi về lãi suất ảnh hưởng đến cả nhu cầu của người gửi tiền và nhu cầu đi vay, và cả hai đều có tác động to lớn đến vị thế thanh khoản của ngân hàng.
Thứ ba, cơ cấu khách hàng chưa hợp lý cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. Khi các ngân hàng chỉ tập trung cho vay và huy động khách hàng cá nhân hoặc các công ty lớn, sẽ có rủi ro thanh khoản cho ngân hàng khi các khách hàng này không trả được nợ đúng hạn hoặc rút tiền bất ngờHoặc cho vay tập trung vào một ngành nghề nhất định. Hầu hết các ngân hàng rơi vào tình trạng mất thanh khoản dẫn đến phá sản đều cho vay tập trung vào ngành chứa nhiều rủi ro. Điển hình là các ngân hàng tại Mỹ, Lehman Brothers tuyên bố phá sản sau khi bong bóng bất động sản nổ ra, các khoản vay dưới chuẩn quá lớn, khoản nợ khổng lồ không thể thanh toán do tài sản khó bán.
Hoặc như SVB, ngay sau khi có tin thất thiệt, hàng loạt cổ đông rút vốn, khách hàng liên tục rút tiền ra khỏi ngân hàng dẫn tới tuyên bố phá sản năm 2022. Thứ tư, ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một cách hoàn hảo. Những trục trặc về thanh khoản sẽ làm xói mòn niềm tin của dân chúng vào ngân hàng. Điều này có thể gây ra hiệu ứng rút tiền hàng loạt của khách hàng tiền gửi gây ra rủi ro thanh khoản của ngân hàng khi không có đủ lượng tiền mặt đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Ngay cả khi có được trạng thái thanh khoản tốt, các ngân hàng cũng không thể chủ quan. Tại mọi thời điểm, tin đồn thất thiệt hoàn toàn có thể châm ngòi cho những yêu cầu thanh toán tăng đột biến từ phía người gửi tiền, đe doạ vượt qua 14 tất cả các ngưỡng chịu đựng đã được dự báo và phá vỡ hoàn toàn trạng thái thanh khoản của cả các ngân hàng vốn đang được cho là an toàn.