CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1. Lý do và bối cảnh nghiên cứu 1. Lý do nghiên cứu Trong những thập niên gần đây, biến đổi khí hậu là một vấn đề đang có xu hướng tiêu cực trên toàn cầu. Khí thải nhà kính là nguyên nhân chính dẫn đến sự nóng lên toàn cầu.
Sự phát thải CO2 là một trong những yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất tới biến đổi khí hậu, đồng thời cũng được xác định là nguyên nhân chính gây nên hiệu ứng nhà kính. TTO - Trong tháng 5-2022, nồng độ CO2 trong khí quyển vượt ngưỡng 420ppm, so với thời kỳ tiền cách mạng công nghiệp thì cao hơn 50% và trong khoảng 4 triệu năm qua ngưỡng CO2 này cao chưa từng thấy. Theo số liệu ngày 19/07/2022, các nước ở Châu Âu như Anh, Pháp,. ghi nhật nhiệt độ kỷ lục lên đến 40 độ C, những nơi không có cây xanh thì lên đến 52 độ C.
Ở Châu Âu, vấn đề hạn hán ngày càng trở nên nghiêm trọng. Còn ở những nước ở Châu Á như Việt Nam, Philippines,. mưa bão diễn ra ngày càng nhiều và thất thường. Biểu đồ minh họa lượng khí thải CO2 theo vùng lãnh thổ Nguồn: Dữ liệu tổng hợp bởi Ourworldindata, 2021 3 Độ mở thương mại là một thành phần thiết yếu của tăng trưởng kinh tế và nhu cầu năng lượng (Sadorsky, 2011).
Các điều kiện kinh tế của đất nước quyết định tác động của mở cửa thương mại đến mức tiêu thụ năng lượng (Cole, 2006). Các quốc gia trên thế giới đang sử dụng các nhiên liệu hóa thạch, các tài nguyên chứa Cacbon như than, dầu, khí tự nhiên,. để làm nguồn năng lượng chính. Độ mở thương mại cao sẽ khiến nhu cầu tiêu thụ nguồn nhiên liệu hóa thạch phục vụ các hoạt động thương mại tăng lê n, từ đó gia tăng lượng phát thải khí CO2.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu đang trở thành xu thế tất yếu, mối quan hệ giữa mở cửa thương mại và lượng phát thải CO2 đang là mối quan tâm lớn của các nhà kinh tế môi trường, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển với cường độ công nghiệp hóa cao. Ngoài ra, để tối đa hóa lợi nhuận, các nước phát triển có xu hướng đầu tư vào các nước đang phát triển với các quy định về môi trường ít nghiêm ngặt hơn hoặc thuế môi trường thấp hơn, dẫn đến việc chuyển các ngành công nghiệp gây ô nhiễm sang các khu vực này (Aller và cộng sự, 2020). Mặt khác, các nước kém phát triển có xu hướng áp dụng các chế độ lỏng lẻo hơn để thu hút đầu tư nước ngoài nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế (Bommer, 1995). Song, các nước đang phát triển dần trở thành sân sau (bãi r ác) của các nước phát triển.
Do đó, họ cần có những chính sách đúng đắn để tránh khỏi việc trở thành thị trường tiêu thụ sản phẩm chất lượng thấp và máy móc thiết bị lạc hậu, cũng như tránh khỏi những hậu quả khôn lường đến môi trường, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến khí nhà kính và biến đổi khí hậu. Vì vậy, nghiên cứu này sẽ tập trung chủ yếu vào sự khác nhau giữa tác động của tăng trưởng kinh tế và mở cửa thương mại đến ngưỡng CO2 giữa các nước phát triển và đang phát triển. Cụ thể, nghiên cứu sẽ điều tra tác động của “GDP”, “Độ mở thương mại”, “GDP2”, “Tiêu thụ năng lượng”, đến lượng phát thải khí CO2. Từ đó, cung cấp thêm bằng chứng khoa học định lượng để các nhà phân tích chính sách có cái nhìn khách quan hơn về các yếu tố tác động lên ngưỡng CO2 và là cơ sở để đề ra các chính sách vĩ mô phù hợp.
Bối cảnh nghiên cứu Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang hướng tới hội nhập kinh tế, có xu hướng toàn cầu hóa đồng thời cũng hướng tới phát triển “bền vững” và giải quyết các khuyết điểm do sản xuất gây ra (Sarkar và Prabirjit, 2008). Trầm trọng hơn, những nước đang phát triển, 4 kém phát triển có ít khả năng và nguồn lực để xử lý ô nhiễm lại đang trở thành bãi rác của các nước phát triển (C. Có thể lý giải cho việc này rằng các nước phát triển có tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt hơn nên có xu hướng xuất khẩu rác thải chưa qua xử lý sang nhóm nước kém và đang phát triển. Ở các nước đang phát triển, chi phí xử lý chất thải và tiền phạt các hành vi ô nhiễm môi trường thường rất cao nên để tối đa hóa lợi nhuận các nước này thường nhắm đến nhóm nước có chính sách môi trường lỏng lẻo.
Chính vì vậy nên các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường thường mất lợi thế so sánh ở các nước phát triển và thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài đối với các nước kém, đang phát triển. Sự dịch chuyển cơ cấu này không những ảnh hưởng đến mô hình thương mại giữa các nước mà còn khiến các nước đang phát triển phải đối mặt với sự gia tăng chóng mặt của khí CO2 trong bầu không khí. Phát triển kinh tế và giải quyết các hậu quả của quá trình đó như ô nhiễm môi trường là một trong những vấn đề cấp thiết mà các quốc gia phải đối mặt. Ô nhiễm môi trường dẫn đến nhiều hệ lụy xấu như biến đổi khí hậu, ảnh hưởng sức khỏe con người.
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu là lượng CO2 thải ra môi trường ngày càng tăng (Solomon và cộng sự, 2009). Những thế hệ sau này sẽ là đối tượng chịu nhiều hệ lụy nhất từ quá trình phát triển kém bền vững này (Clayton và cộng s ự, 2016). Để đo lường chất lượng của môi trường, người ta đo nhiều chỉ số trong không khí, trong đó bao gồm CO2 (Chu và Karr, 2017). Tại những khu vực đang phát triển thì lượng CO2 thải ra trên đầu người là cao và tốc độ thải CO2 của các quốc gia đó ngày một tăng nhanh (Chu và Karr, 2017).
Sự mở cửa thương mại mang lại khả năng tiếp cận các đầu vào nhập khẩu có chứa công nghệ mới, tăng quy mô thị trường mà các nhà sản xuất trong nước phải đối mặt, nâng cao lợi nhuận cho đổi mới và tạo điều kiện cho sự chuyên môn hóa của một quốc gia trong nghiên cứu - sản xuất thâm canh (Harrison, 1996). Nhưng có khoảng cách rất mong manh giữa phát triển “bền vững” và phát triển “không bền vững” vì hậu quả của khí CO2 thải ra môi trường trong quá trình phát triển kinh tế (Tạ Thị Linh Nhi, 2016). Việc mở cửa n ày cũng giúp các nước kém phát triển, đang phát triển có thể du nhập công nghệ, học hỏi từ các nước cường phát triển, các nước cường quốc kinh tế. Nhưng kéo theo quá trình phát triển có vẻ hào nhoáng đó lại là đẩy mạnh, mở rộng sản xuất, tăng lượng chất th ải thải ra 5 môi trường.
Mở cửa thương mại phải đi kèm với thắt chặt chính sách môi trường và chính sách quản lý thì mới là sự mở cửa tích cực (Herzer, 2010). Do đó, việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế và độ mở thương mại đến lượng phát thải CO2 trên thế giới là cần thiết trong việc tìm ra các giải pháp bảo vệ môi trường kịp thời, phù hợp cho từng quốc gia có tính đặc thù riêng và giúp các nhà h oạch định chính sách có thêm tài liệu, nguồn tin để hỗ trợ nghiên cứu, đưa ra chính sách hiệu quả. Tổng quan các nghiên cứu trước đây Vấn đề nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu đang ngày càng trở thành mối quan tâm lớn, đặc biệt trong thời đại hiện nay khi ngày càng có nhiều người hướng tới nhu cầu về môi trường bền vững. Nhiều cơ quan, tổ chức hiện nay đặt sự bền vững môi trường lên hàng đầu.
Ví dụ: các tổ chức như Đại học Nam New Hampshire (SNHU) đã thành lập Văn phòng Phát triển Bền vững để giúp trao quyền cho sinh viên, nhân viê n và giảng viên của họ nhằm tạo ra một tổ chức và văn hóa bền vững. Là tác nhân chính gây ra hiệu ứng nhà kính, việc gia tăng khí thải carbon dioxide (CO2) được coi là một vấn đề môi trường nghiêm trọng. Các mối đe dọa ngày càng tăng do những vấn đề này gây ra đối với môi trường đã thúc đẩy nhiều học giả và nhà hoạch định chính sách tìm ra một số cách hiệu quả để giảm phát thải khí nhà kính. Cho đến nay, đã có rất nhiều bài viết tập trung vào nguyên nhân dẫn đến lượng phát thải CO2 ngày càng tăng hoặc mối liên hệ giữa phát thải CO2 và một số yếu tố.S Wang và cộng sự (201 1) đã xem xét mối quan hệ nhân quả giữa lượng khí thải carbon dioxide, mức tiêu thụ năng lượng và sản lượng kinh tế thực tế ở 28 tỉnh ở Trung Quốc trong giai đoạn 1995 –2007, trong khi nghiên cứu của Qiang Wang và Fuyu Zhang (2011) xem xét tác động của mở c ửa thương mại.
Nhìn chung, kết quả của những nghiên cứu đó vẫn còn gây tranh cãi vì chúng cho thấy sự khác biệt khi được tiến hành trong những bối cảnh khác nhau. Một trong những chủ đề được tranh luận nhiều nhất là mối quan hệ giữa môi trường và nền kinh tế hay còn gọi là Environmental Kuznets Curve. Nghiên cứu của Fengsheng Chien (2021) đã phân tích vai trò của đổi mới công nghệ, toàn cầu hóa và năng lượng tái tạo để giảm suy thoái môi trường ở Pakistan bằng cách sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian từ năm 1980 đến năm 2018 và nghiên cứu này đã xác nhận giả thuyết hình chữ U ngược của EKC trong trường hợp này của Pakistan. Hoặc nó cũng đã được chứng minh là đúng khi Gene M.
Grossman và Alan B. 6 Krueger thử nghiệm tác động môi trường của Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ. Tuy nhiên, có những người khác chống lại EKC này. Trong trường hợp của Seppälä, T.
(2001), kết quả kiểm tra giả thuyết thực nghiệm chỉ ra rằng giả thuyết EKC không đúng trong trường hợp dòng nguyên liệu trực tiếp tổng hợp giữa các nước công nghiệp hóa ở các nước như Đức, Nhật Bản, Mỹ, Hà Lan và Phần Lan. Hơn nữa, có một số nghiên cứu đề cập đến sự tồn tại của đường cong hình chữ N. Trong một nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa môi trường sinh thái đảo và phát triển kinh tế xã hội, Xin Fang và Shu Gao (2023) cho rằng mối quan hệ giữa môi trường sinh thái và kinh tế xã hội ở Hải Nam thể hiện một đường cong “hình chữ N”.